Giới thiệu về Trường
Đột phá chuyển đổi số trong xây dựng văn hóa số - yêu cầu cấp thiết đối với quản lý nhà nước trong kỷ nguyên mới
Ngày Đăng: 28/4/2026 9:8 Lượt xem: 29
Trong dòng chảy của Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số không chỉ là xu thế công nghệ mà đã trở thành động lực trung tâm tái cấu trúc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa, hình thành nên một không gian mới – không gian văn hóa số. Qua đó, tạo điều kiện lưu giữ, lan tỏa, truyền bá, quảng bá các giá trị, chuẩn mực, các sản phẩm văn hóa với tốc độ nhanh và phạm vi tác động rộng rãi.
Khoản 1 Điều 45 Luật chuyển đổi số năm 2025 được Quốc hội thông qua 11/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 quy định:
“Văn hóa số là các giá trị, chuẩn mực, hành vi ứng xử, hoạt động sáng tạo và chia sẻ nội dung văn hóa trên môi trường số phù hợp với quy định của pháp luật và truyền thống văn hóa Việt Nam”.
So với văn hóa truyền thống, văn hóa số có những đặc tính ưu việt mang tính đột phá như: (1) văn hóa số có tính phi biên giới, cho phép các giá trị văn hóa lan tỏa nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, vượt qua các giới hạn địa lý và lãnh thổ quốc gia; (2) văn hóa số thể hiện tính tương tác và đồng sáng tạo cao, khi mỗi cá nhân không chỉ là chủ thể tiếp nhận mà còn là chủ thể tham gia sáng tạo và phân phối nội dung văn hóa; (3) văn hóa số mang tính dữ liệu hóa, giúp chuyển hóa các giá trị văn hóa thành tài nguyên số có thể lưu trữ, khai thác và thương mại hóa. Những đặc trưng này cho thấy văn hóa số không chỉ là sự tiếp nối của văn hóa truyền thống mà là một hình thức biểu đạt văn hoá trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.
Trong bối cảnh ấy, sự chuyển dịch từ văn hóa truyền thống sang văn hóa số không chỉ làm thay đổi phương thức lưu trữ, lan tỏa các giá trị văn hóa, mà còn đặt ra những thách thức mới trong quản lý nhà nước về bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, kiểm soát nội dung và bảo đảm chủ quyền văn hóa quốc gia. Nhận diện rõ xu thế đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW (Nghị quyết) ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong tư duy đường lối của Đảng về phát triển văn hóa bằng cách xác định chuyển đổi số là “xung lực mới cho phát triển văn hóa” Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chủ quyền văn hóa số trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
Tại quan điểm thứ tư, Nghị quyết đã khẳng định: “Đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hoá, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hoá, thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hoá”[1]. Quan điểm này đã thể hiển tư duy đổi mới của Đảng ta về phát triển văn hóa. Đảng xác định, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững và chuyển đổi số không chỉ được đặt ngang hàng với các trụ cột truyền thống như thể chế, nguồn lực con người và xã hội, mà còn là yếu tố kiến tạo “không gian mới” và “xung lực mới”, giúp văn hóa từ một lĩnh vực được bảo tồn truyền thống thành một động lực sáng tạo chủ động, thích ứng với Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số toàn cầu. Đồng thời, Nghị quyết cũng nhấn mạnh cần phải nhận thức và xử lý hài hòa giữa “đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số”. Như vậy, nếu như các Nghị quyết trước đây về phát triển văn hóa chủ yếu xác định quản lý văn hóa theo phương thức truyền thống thì Nghị quyết số 80 – NQ/TW đã kế thừa và đặt dấu ấn mới, coi văn hóa không còn là lĩnh vực thuần túy truyền thống mà phải trở thành lực lượng tiên phong trong không gian số, sử dụng công nghệ để sáng tạo, bảo tồn giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc, đặt nền tảng vững chắc xây dựng chủ quyền văn hóa số, góp phần nâng tầm sức mạnh mềm quốc gia.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết đề ra các mục tiêu đột phá về chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Cụ thể, thiết lập lộ trình cụ thể phấn đấu đến năm 2026, hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt; ban hành cơ chế tài chính để ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá và đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới; phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP, hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá; phấn đấu thêm 5 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh [1]. Từ đó, định hướng mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh; phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá…
Xuất phát từ các quan điểm chỉ đạo trên, việc đổi mới quản lý nhà nước cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, có hệ thống, đồng bộ, bảo đảm tính liên thông giữa thể chế, công nghệ và nguồn lực. Đặc biệt, Nghị quyết không chỉ dừng lại ở định hướng phát triển mà còn đặt ra yêu cầu tái cấu trúc phương thức quản lý, đòi hỏi Nhà nước phải chuyển từ vai trò quản lý hành chính truyền thống sang quản trị kiến tạo, quản trị văn hóa trong môi trường số. Để hiện thực hóa các mục tiêu trên nhằm triển khai thực hiện đột phá chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế về văn hóa số và dữ liệu văn hóa.
Nghị quyết nhấn mạnh giải pháp xây dựng cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá; phát triển các mô hình kinh tế văn hoá mới, các dự án trọng điểm, quy mô lớn về văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo. Hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp văn hoá tiếp cận và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nội dung số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hoá và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, đồng thời cần ban hanh Bộ chỉ số văn hóa quốc gia. Từ đó cho thấy, việc hoàn thiện thể chế về văn hóa số không chỉ là yêu cầu nội tại của quản lý nhà nước mà còn là yêu cầu trực tiếp từ định hướng chiến lược của Đảng ta.
Đối với hoạt động quản lý dữ liệu, Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuẩn hóa, số hóa và kết nối dữ liệu về văn hóa, di sản văn hóa, qua đó xác lập dữ liệu văn hóa là một nguồn tài nguyên quan trọng cần được quản lý thống nhất. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy hệ thống pháp luật chưa có quy định pháp lý đầy đủ về dữ liệu văn hóa, dẫn đến tình trạng phân tán, thiếu liên thông và khó khai thác hiệu quả. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ về văn hóa số, làm rõ quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trên môi trường số; đồng thời ban hành chính sách ưu đãi vượt trội như miễn, giảm thuế, hỗ trợ đất đai cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo văn hóa; thí điểm các mô hình kinh doanh mới gắn với nền tảng số, nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm an ninh dữ liệu và chủ quyền văn hóa quốc gia trong không gian số.
Thứ hai, đổi mới phương thức quản lý văn hoá theo hướng kiến tạo, phục vụ, chuyển đổi từ quản lý hành chính sang quản trị số.
Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa gắn với đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Từ đó, có thể thấy chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là yếu tố thúc đẩy thay đổi bản chất của hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa.
Theo tinh thần Nghị quyết, việc xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu chính là nền tảng để chuyển sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu số. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào phương thức hành chính truyền thống, thiếu các công cụ phân tích và dự báo dựa trên dữ liệu số. Điều này dẫn đến hạn chế trước những biến động nhanh của môi trường văn hóa số.
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng đề cập đến việc ứng dụng công nghệ số trong giám sát và định hướng, phát triển văn hóa trực tuyến, qua đó đặt ra yêu cầu phải tích hợp các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ thực tế ảo (Blockchain) vào hoạt động quản lý nhà nước. Đây là cơ sở để chuyển đổi vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa từ “quản lý trực tiếp” sang “kiến tạo phát triển”, phù hợp với đặc thù của môi trường số. Từ đó, định hướng xây dựng các thiết chế “văn hóa số”, “bảo tàng mở”, “nhà hát di dộng”, “thư viện số” nhằm đảm bảo quyền tiếp cận và quyền thụ hưởng văn hóa của mọi thành viên trong xã hội.
Thứ ba, về xây dựng hệ sinh thái văn hóa số quốc gia.
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định nhiệm vụ xây dựng, phát triển hệ sinh thái văn hoá mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức mạnh dẫn dắt, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững. Đồng thời, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu hình thành các không gian sáng tạo nội dung số, hình thành chuỗi giá trị sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa – sáng tạo nội dung số, “trung tâm sáng tạo vùng”… Qua đó, phát triển các nền tảng số dùng chung trong lĩnh vực văn hóa, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành hệ sinh thái số quốc gia.
Đặc biệt, lần đầu tiên vấn đề bảo vệ chủ quyền văn hóa số được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết: “phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hoá, an ninh con người, chủ quyền văn hoá số”[1]. Đây là yêu cầu tất yếu trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. “Bảo vệ chủ quyền văn hóa số” đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo thể chế; doanh nghiệp đóng vai trò phát triển nền tảng và sản phẩm; còn người dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là lực lượng bảo vệ và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc, góp phần hình thành “lá chắn mềm” bảo vệ chủ quyền văn hoá số.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy phát triển văn hóa ở Việt Nam, đặc biệt là việc xác định chuyển đổi số như một đột phá chiến lược và đặt nền tảng cho việc xây dựng chủ quyền văn hóa số. Trong bối cảnh đó, quản lý nhà nước về văn hóa cần được đổi mới toàn diện để thích ứng với những biến đổi của không gian văn hóa. Đây không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là điều kiện quyết định để bảo đảm sự phát triển bền vững của văn hóa và nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên số.
Khoản 1 Điều 45 Luật chuyển đổi số năm 2025 được Quốc hội thông qua 11/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 quy định:
“Văn hóa số là các giá trị, chuẩn mực, hành vi ứng xử, hoạt động sáng tạo và chia sẻ nội dung văn hóa trên môi trường số phù hợp với quy định của pháp luật và truyền thống văn hóa Việt Nam”.
So với văn hóa truyền thống, văn hóa số có những đặc tính ưu việt mang tính đột phá như: (1) văn hóa số có tính phi biên giới, cho phép các giá trị văn hóa lan tỏa nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, vượt qua các giới hạn địa lý và lãnh thổ quốc gia; (2) văn hóa số thể hiện tính tương tác và đồng sáng tạo cao, khi mỗi cá nhân không chỉ là chủ thể tiếp nhận mà còn là chủ thể tham gia sáng tạo và phân phối nội dung văn hóa; (3) văn hóa số mang tính dữ liệu hóa, giúp chuyển hóa các giá trị văn hóa thành tài nguyên số có thể lưu trữ, khai thác và thương mại hóa. Những đặc trưng này cho thấy văn hóa số không chỉ là sự tiếp nối của văn hóa truyền thống mà là một hình thức biểu đạt văn hoá trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.
Trong bối cảnh ấy, sự chuyển dịch từ văn hóa truyền thống sang văn hóa số không chỉ làm thay đổi phương thức lưu trữ, lan tỏa các giá trị văn hóa, mà còn đặt ra những thách thức mới trong quản lý nhà nước về bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, kiểm soát nội dung và bảo đảm chủ quyền văn hóa quốc gia. Nhận diện rõ xu thế đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW (Nghị quyết) ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong tư duy đường lối của Đảng về phát triển văn hóa bằng cách xác định chuyển đổi số là “xung lực mới cho phát triển văn hóa” Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chủ quyền văn hóa số trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
Tại quan điểm thứ tư, Nghị quyết đã khẳng định: “Đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hoá, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hoá, thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hoá”[1]. Quan điểm này đã thể hiển tư duy đổi mới của Đảng ta về phát triển văn hóa. Đảng xác định, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững và chuyển đổi số không chỉ được đặt ngang hàng với các trụ cột truyền thống như thể chế, nguồn lực con người và xã hội, mà còn là yếu tố kiến tạo “không gian mới” và “xung lực mới”, giúp văn hóa từ một lĩnh vực được bảo tồn truyền thống thành một động lực sáng tạo chủ động, thích ứng với Cách mạng Công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số toàn cầu. Đồng thời, Nghị quyết cũng nhấn mạnh cần phải nhận thức và xử lý hài hòa giữa “đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số”. Như vậy, nếu như các Nghị quyết trước đây về phát triển văn hóa chủ yếu xác định quản lý văn hóa theo phương thức truyền thống thì Nghị quyết số 80 – NQ/TW đã kế thừa và đặt dấu ấn mới, coi văn hóa không còn là lĩnh vực thuần túy truyền thống mà phải trở thành lực lượng tiên phong trong không gian số, sử dụng công nghệ để sáng tạo, bảo tồn giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc, đặt nền tảng vững chắc xây dựng chủ quyền văn hóa số, góp phần nâng tầm sức mạnh mềm quốc gia.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết đề ra các mục tiêu đột phá về chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Cụ thể, thiết lập lộ trình cụ thể phấn đấu đến năm 2026, hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt; ban hành cơ chế tài chính để ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá và đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới; phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP, hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá; phấn đấu thêm 5 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh [1]. Từ đó, định hướng mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh; phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá…
Xuất phát từ các quan điểm chỉ đạo trên, việc đổi mới quản lý nhà nước cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, có hệ thống, đồng bộ, bảo đảm tính liên thông giữa thể chế, công nghệ và nguồn lực. Đặc biệt, Nghị quyết không chỉ dừng lại ở định hướng phát triển mà còn đặt ra yêu cầu tái cấu trúc phương thức quản lý, đòi hỏi Nhà nước phải chuyển từ vai trò quản lý hành chính truyền thống sang quản trị kiến tạo, quản trị văn hóa trong môi trường số. Để hiện thực hóa các mục tiêu trên nhằm triển khai thực hiện đột phá chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế về văn hóa số và dữ liệu văn hóa.
Nghị quyết nhấn mạnh giải pháp xây dựng cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá; phát triển các mô hình kinh tế văn hoá mới, các dự án trọng điểm, quy mô lớn về văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo. Hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp văn hoá tiếp cận và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nội dung số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hoá và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, đồng thời cần ban hanh Bộ chỉ số văn hóa quốc gia. Từ đó cho thấy, việc hoàn thiện thể chế về văn hóa số không chỉ là yêu cầu nội tại của quản lý nhà nước mà còn là yêu cầu trực tiếp từ định hướng chiến lược của Đảng ta.
Đối với hoạt động quản lý dữ liệu, Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuẩn hóa, số hóa và kết nối dữ liệu về văn hóa, di sản văn hóa, qua đó xác lập dữ liệu văn hóa là một nguồn tài nguyên quan trọng cần được quản lý thống nhất. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy hệ thống pháp luật chưa có quy định pháp lý đầy đủ về dữ liệu văn hóa, dẫn đến tình trạng phân tán, thiếu liên thông và khó khai thác hiệu quả. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ về văn hóa số, làm rõ quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trên môi trường số; đồng thời ban hành chính sách ưu đãi vượt trội như miễn, giảm thuế, hỗ trợ đất đai cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo văn hóa; thí điểm các mô hình kinh doanh mới gắn với nền tảng số, nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm an ninh dữ liệu và chủ quyền văn hóa quốc gia trong không gian số.
Thứ hai, đổi mới phương thức quản lý văn hoá theo hướng kiến tạo, phục vụ, chuyển đổi từ quản lý hành chính sang quản trị số.
Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa gắn với đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Từ đó, có thể thấy chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là yếu tố thúc đẩy thay đổi bản chất của hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa.
Theo tinh thần Nghị quyết, việc xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu chính là nền tảng để chuyển sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu số. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào phương thức hành chính truyền thống, thiếu các công cụ phân tích và dự báo dựa trên dữ liệu số. Điều này dẫn đến hạn chế trước những biến động nhanh của môi trường văn hóa số.
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng đề cập đến việc ứng dụng công nghệ số trong giám sát và định hướng, phát triển văn hóa trực tuyến, qua đó đặt ra yêu cầu phải tích hợp các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ thực tế ảo (Blockchain) vào hoạt động quản lý nhà nước. Đây là cơ sở để chuyển đổi vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa từ “quản lý trực tiếp” sang “kiến tạo phát triển”, phù hợp với đặc thù của môi trường số. Từ đó, định hướng xây dựng các thiết chế “văn hóa số”, “bảo tàng mở”, “nhà hát di dộng”, “thư viện số” nhằm đảm bảo quyền tiếp cận và quyền thụ hưởng văn hóa của mọi thành viên trong xã hội.
Thứ ba, về xây dựng hệ sinh thái văn hóa số quốc gia.
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định nhiệm vụ xây dựng, phát triển hệ sinh thái văn hoá mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức mạnh dẫn dắt, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững. Đồng thời, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu hình thành các không gian sáng tạo nội dung số, hình thành chuỗi giá trị sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa – sáng tạo nội dung số, “trung tâm sáng tạo vùng”… Qua đó, phát triển các nền tảng số dùng chung trong lĩnh vực văn hóa, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành hệ sinh thái số quốc gia.
Đặc biệt, lần đầu tiên vấn đề bảo vệ chủ quyền văn hóa số được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết: “phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hoá, an ninh con người, chủ quyền văn hoá số”[1]. Đây là yêu cầu tất yếu trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. “Bảo vệ chủ quyền văn hóa số” đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo thể chế; doanh nghiệp đóng vai trò phát triển nền tảng và sản phẩm; còn người dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là lực lượng bảo vệ và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc, góp phần hình thành “lá chắn mềm” bảo vệ chủ quyền văn hoá số.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy phát triển văn hóa ở Việt Nam, đặc biệt là việc xác định chuyển đổi số như một đột phá chiến lược và đặt nền tảng cho việc xây dựng chủ quyền văn hóa số. Trong bối cảnh đó, quản lý nhà nước về văn hóa cần được đổi mới toàn diện để thích ứng với những biến đổi của không gian văn hóa. Đây không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là điều kiện quyết định để bảo đảm sự phát triển bền vững của văn hóa và nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên số.
Ths Nguyễn Thị Huyền Quyên
Khoa Nhà nước và pháp luật
Khoa Nhà nước và pháp luật
- Tài liệu tham khảo:
[1] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hoá Việt Nam, Hà Nội.
[2] Quốc hội (2025), Luật chuyển đổi số số 148/2025/QH15 ngày 11/12/2025, Hà Nội.
[2] Quốc hội (2025), Luật chuyển đổi số số 148/2025/QH15 ngày 11/12/2025, Hà Nội.
Tin mới nhất:
- ❧ Khoa Lý luận cơ sở đổi mới hoạt động nghiên cứu thực tế ở cơ sở -
- ❧ Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Sơn chúc mừng các cơ quan báo chí Trung ương -
- ❧ Tác phẩm "Một bước tiến, hai bước lùi" - Giá trị và sự vận dụng trong công tác xây dựng về tổ chức hiện nay -
- ❧ Chi đoàn thanh niên Trường Chính trị tổ chức tọa đàm -
- ❧ Khoa Xây dựng Đảng nghiên cứu thực tế ở cơ sở -