Nghiên cứu - Trao đổi
Vai trò của pháp luật trong hệ thống công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội
Ngày Đăng: 3/8/2026 10:6 Lượt xem: 33
Trong sự phát triển tự nhiên của đời sống xã hội, bên cạnh những mối quan hệ cần thiết, có ích cho xã hội thì cũng luôn tồn tại cả những mối quan hệ không có ích, thậm chí có hại cho trật tự chung. Để duy trì ổn định trật tự xã hội, đòi hỏi các mối quan hệ trong xã hội phải được điều chỉnh, nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho những quan hệ xã hội có lợi được tồn tại và phát triển, ngăn chặn và đi tới loại bỏ những mối quan hệ mà cộng đồng không mong muốn. Từ đó, có thể hiểu “Điều chỉnh quan hệ xã hội là sử dụng các công cụ tác động lên các quan hệ xã hội, làm cho chúng thay đổi và phát triển theo những mục đích, định hướng nhất định, nhằm duy trì và bảo vệ trật tự xã hội”[1].
Công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội là các quy phạm xã hội. Chúng được coi là khuôn mẫu, là mô hình, là chuẩn mực cho hành vi ứng xử của các chủ thể khi họ tham gia vào những mối quan hệ xã hội nhất định. Các quan hệ xã hội lại rất phong phú, đa dạng và phức tạp, bởi vậy để điều chỉnh chúng một cách có hiệu quả, cần phải có nhiều công cụ khác nhau, bao gồm: Pháp luật (gọi là thể chế quan phương); đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo, lệ làng, hương ước, luật tục, quy định của các tổ chức xã hội… (gọi chung là thể chế phi quan phương). Các công cụ này vừa có sự độc lập, vừa có sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, hợp thành hệ thống công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội chủ yếu sau đây.
1. Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
Có thể nói, bất kỳ một hệ thống pháp luật nào bao giờ cũng ra đời, tồn tại và phát triển trên một nền tảng đạo đức nhất định. Đạo đức như là môi trường cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của pháp luật, là chất liệu làm nên các quy định trong hệ thống pháp luật. Đạo đức cũng chính là môi trường thuận lợi để tiếp thu, cảm nhận và thực hiện pháp luật. Người có ý thức đạo đức tốt thường là người có thái độ tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật. Ngược lại, chủ thể có ý thức đạo đức kém dễ coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật. Vai trò của ý thức đạo đức cá nhân càng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động áp dụng pháp luật của nhà chức trách, khi đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật bao giờ họ cũng phải tính đến các quan niệm đạo đức xã hội sao cho vừa “thấu tình” mà phải “đạt lý”.
Ngược lại, pháp luật có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ tới đạo đức. Pháp luật là công cụ để truyền bá những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức; nhờ đó, chúng nhanh chóng trở thành những chuẩn mực mang tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi người. Pháp luật góp phần củng cố, giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức xã hội, hỗ trợ, bổ sung cho đạo đức, đảm bảo cho chúng được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Nhưng, pháp luật cũng sẽ loại trừ những quan niệm, tư tưởng, đạo đức lạc hậu, trái với lợi ích giai cấp thống trị, lợi ích chung của cộng đồng cũng như tiến bộ xã hội. Pháp luật góp phần ngăn chặn sự thoái hóa, xuống cấp của đạo đức; ngăn chặn việc hình thành những quan niệm đạo đức trái thuần phong mỹ tục của dân tộc và tiến bộ xã hội; góp phần làm hình thành những quan niệm đạo đức mới.
2. Quan hệ giữa pháp luật và phong tục tập quán, luật tục
Phong tục tập quán, luật tục, truyền thống tốt đẹp, những yếu tố làm nên bản sắc văn hoá của một dân tộc luôn là cơ sở hình thành nên những quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật. Đây cũng chính là một trong ba con đường dẫn tới sự ra đời của pháp luật theo quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin. Đặc biệt, trong điều kiện đất nước ta đi lên từ một nền kinh tế tiểu nông, tự cấp, tự túc thì ảnh hưởng của phong tục tập quán, luật tục đến pháp luật càng mạnh mẽ. Trong điều kiện đó, các quan hệ xã hội chủ yếu diễn ra trong phạm vi làng xã với sự đan xen chằng chịt và hết sức bền chặt của các quan hệ huyết thống, hôn nhân, láng giềng, kinh tế... làm cho sự can thiệp của nhà nước đối với các làng xã trở nên khó khăn. Bởi vậy mà người xưa có câu “phép vua thua lệ làng”, khi ban hành pháp luật, nhà nước phải lựa theo phong tục tập quán, luật tục sao cho phù hợp với những tư tưởng này. Đây có thể được xem như đặc điểm chung của pháp luật ở các quốc gia tiểu nông, nó giúp pháp luật dễ dàng đi vào cuộc sống nhờ thói quen xử sự của người dân. Với ưu thế gần gũi, nhiều phong tục tập quán, nhiều quy định trong luật tục có nội dung phù hợp với pháp luật có thể được vận dụng để bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật trong trường hợp thiếu pháp luật, nhất là ở những địa bàn và những lĩnh vực mà pháp luật không thể vươn tới. Tuy nhiên, phong tục tập quán, luật tục cũng có thể là nhân tố cản trở đối với việc thực hiện pháp luật, nhất là trong điều kiện kinh tế xã hội lạc hậu, chậm phát triển. Chính lối sống theo phong tục tập quán, lệ làng, luật tục là nhân tố cản trở rất lớn đối với việc thực hiện pháp luật.
Ngược lại, pháp luật tác động mạnh mẽ đến phong tục tập quán, luật tục. Pháp luật thừa nhận sự tồn tại của phong tục tập quán, luật tục, khuyến khích các cộng đồng phát huy vai trò của loại công cụ này trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội dưới sự chỉ đạo bởi tư tưởng cơ bản của pháp luật. Nhà nước còn có thể pháp luật hoá các phong tục tập quán cũng như các quy định trong luật tục có nội dung phù hợp với các giá trị đạo đức và tiến bộ xã hội trở thành tập quán pháp để áp dụng cho chính cộng đồng có phong tục tập quán, luật tục đó, đồng thời thiết lập hệ thống thiết chế pháp lý để bảo đảm sự vận hành của chúng. Bằng những cách đó, pháp luật đã củng cố phong tục tập quán, luật tục, định hướng sự phát triển của chúng theo quỹ đạo của nhà nước, đảm bảo cho chúng được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế, qua đó giữ gìn, bảo lưu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Bên cạnh đó, pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc loại trừ những phong tục tập quán, luật tục có nội dung trái đạo đức xã hội, lạc hậu, phản tiến bộ, cản trở sự phát triển của cộng đồng.
3. Quan hệ giữa pháp luật và hương ước, quy ước
Có thể nói về cơ bản, hương ước và pháp luật luôn thống nhất với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau trong việc duy trì trật tự trong cộng đồng làng xã, bởi trong tiến trình của lịch sử, Việt Nam có mô hình “tự trị làng xã” vô cùng bền chặt.
Hương ước có sự hỗ trợ không nhỏ trong việc thực hiện pháp luật. Trong điều kiện pháp luật không thể quy định một cách cụ thể, chi tiết cho phù hợp với điều kiện của từng thôn, làng, hương ước, quy ước như là một sự tiếp nối của pháp luật, là sự cụ thể hoá, chi tiết hoá pháp luật vào điều kiện, hoàn cảnh của làng xã. Nhờ đó, pháp luật có thể dễ dàng đi vào đời sống cộng đồng. Bằng lời văn của hương ước, các quy định khô khan, cứng nhắc của pháp luật trở nên đơn giản, dung dị, gần gũi với cuộc sống và sự hiểu biết của người dân, vì vậy nó dễ dàng được người dân tiếp nhận. Đồng thời hương ước, quy ước còn bao hàm những quy định nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội mang tính đặc thù của từng cộng đồng thôn, làng mà pháp luật chưa hoặc không thể vươn tới được.
Ngược lại, pháp luật cũng có tác động mạnh mẽ đến hương ước, quy ước. Sự tác động này có thể diễn ra theo nhiều chiều hướng. Pháp luật thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích các cộng đồng dân cư xây dựng hương ước, quy ước. Tại Việt Nam, hiện nay Nhà nước khuyến khích các cộng đồng dân cư xây dựng hương ước, quy ước và phải tuân theo các quy định tại Nghị định 61/2023/NĐ-CP ngày 16/8/2023 của Chính phủ về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư.
4. Quan hệ giữa pháp luật và tín điều tôn giáo
Mối quan hệ giữa pháp luật với tín điều tôn giáo là một mối quan hệ khá phức tạp, bởi bên cạnh phần “đạo”, tín điều tôn giáo còn điều chỉnh là phần “đời”. Trong điều kiện tôn giáo tách biệt khỏi chính trị, thần quyền và chính quyền đã có sự tách bạch nhau, giữa tín điều tôn giáo và pháp luật vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác biệt, vừa có sự tác động qua lại lẫn nhau.
Dễ nhận thấy có nhiều nội dung trong các tín điều tôn giáo thống nhất với pháp luật. Trong những trường hợp này, niềm tin tôn giáo tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Có thể nói, nhìn chung các tôn giáo đều là sự hướng thiện, khuyên con người làm điều lành, lánh điều ác, một giáo dân tốt đồng thời là một công dân tốt. Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với tiến bộ xã hội. Trong giới luật của các tôn giáo nhìn chung đều có những quy định cấm trộm cắp, nói dối, giết người, ngoại tình... Như vậy, pháp luật và tín điều tôn giáo cùng tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội, phối hợp, hỗ trợ, bổ sung cho nhau để tạo nên sự điều chỉnh mạnh mẽ nhất đối với các quan hệ xã hội, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo. Bên cạnh đó, giữa pháp luật và tín điều tôn giáo cũng có sự khác biệt, thậm chí mâu thuẫn nhau. Trong trường hợp đó, tín điều tôn giáo trở thành sự cản trở việc thực hiện pháp luật trong các cộng đồng giáo dân.
Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người tại Điều 24 Hiến pháp 2013. “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. 2. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Như vậy, pháp luật góp phần giữ gìn và phát huy giá trị của các tín ngưỡng dân gian thể hiện những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội. Ngược lại, pháp luật nghiêm cấm các hành vi: “Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản của cá nhân, tổ chức; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”.[2]
Công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội là các quy phạm xã hội. Chúng được coi là khuôn mẫu, là mô hình, là chuẩn mực cho hành vi ứng xử của các chủ thể khi họ tham gia vào những mối quan hệ xã hội nhất định. Các quan hệ xã hội lại rất phong phú, đa dạng và phức tạp, bởi vậy để điều chỉnh chúng một cách có hiệu quả, cần phải có nhiều công cụ khác nhau, bao gồm: Pháp luật (gọi là thể chế quan phương); đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo, lệ làng, hương ước, luật tục, quy định của các tổ chức xã hội… (gọi chung là thể chế phi quan phương). Các công cụ này vừa có sự độc lập, vừa có sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, hợp thành hệ thống công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội chủ yếu sau đây.
1. Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
Có thể nói, bất kỳ một hệ thống pháp luật nào bao giờ cũng ra đời, tồn tại và phát triển trên một nền tảng đạo đức nhất định. Đạo đức như là môi trường cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của pháp luật, là chất liệu làm nên các quy định trong hệ thống pháp luật. Đạo đức cũng chính là môi trường thuận lợi để tiếp thu, cảm nhận và thực hiện pháp luật. Người có ý thức đạo đức tốt thường là người có thái độ tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật. Ngược lại, chủ thể có ý thức đạo đức kém dễ coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật. Vai trò của ý thức đạo đức cá nhân càng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động áp dụng pháp luật của nhà chức trách, khi đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật bao giờ họ cũng phải tính đến các quan niệm đạo đức xã hội sao cho vừa “thấu tình” mà phải “đạt lý”.
Ngược lại, pháp luật có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ tới đạo đức. Pháp luật là công cụ để truyền bá những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức; nhờ đó, chúng nhanh chóng trở thành những chuẩn mực mang tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi người. Pháp luật góp phần củng cố, giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức xã hội, hỗ trợ, bổ sung cho đạo đức, đảm bảo cho chúng được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Nhưng, pháp luật cũng sẽ loại trừ những quan niệm, tư tưởng, đạo đức lạc hậu, trái với lợi ích giai cấp thống trị, lợi ích chung của cộng đồng cũng như tiến bộ xã hội. Pháp luật góp phần ngăn chặn sự thoái hóa, xuống cấp của đạo đức; ngăn chặn việc hình thành những quan niệm đạo đức trái thuần phong mỹ tục của dân tộc và tiến bộ xã hội; góp phần làm hình thành những quan niệm đạo đức mới.
2. Quan hệ giữa pháp luật và phong tục tập quán, luật tục
Phong tục tập quán, luật tục, truyền thống tốt đẹp, những yếu tố làm nên bản sắc văn hoá của một dân tộc luôn là cơ sở hình thành nên những quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật. Đây cũng chính là một trong ba con đường dẫn tới sự ra đời của pháp luật theo quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin. Đặc biệt, trong điều kiện đất nước ta đi lên từ một nền kinh tế tiểu nông, tự cấp, tự túc thì ảnh hưởng của phong tục tập quán, luật tục đến pháp luật càng mạnh mẽ. Trong điều kiện đó, các quan hệ xã hội chủ yếu diễn ra trong phạm vi làng xã với sự đan xen chằng chịt và hết sức bền chặt của các quan hệ huyết thống, hôn nhân, láng giềng, kinh tế... làm cho sự can thiệp của nhà nước đối với các làng xã trở nên khó khăn. Bởi vậy mà người xưa có câu “phép vua thua lệ làng”, khi ban hành pháp luật, nhà nước phải lựa theo phong tục tập quán, luật tục sao cho phù hợp với những tư tưởng này. Đây có thể được xem như đặc điểm chung của pháp luật ở các quốc gia tiểu nông, nó giúp pháp luật dễ dàng đi vào cuộc sống nhờ thói quen xử sự của người dân. Với ưu thế gần gũi, nhiều phong tục tập quán, nhiều quy định trong luật tục có nội dung phù hợp với pháp luật có thể được vận dụng để bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật trong trường hợp thiếu pháp luật, nhất là ở những địa bàn và những lĩnh vực mà pháp luật không thể vươn tới. Tuy nhiên, phong tục tập quán, luật tục cũng có thể là nhân tố cản trở đối với việc thực hiện pháp luật, nhất là trong điều kiện kinh tế xã hội lạc hậu, chậm phát triển. Chính lối sống theo phong tục tập quán, lệ làng, luật tục là nhân tố cản trở rất lớn đối với việc thực hiện pháp luật.
Ngược lại, pháp luật tác động mạnh mẽ đến phong tục tập quán, luật tục. Pháp luật thừa nhận sự tồn tại của phong tục tập quán, luật tục, khuyến khích các cộng đồng phát huy vai trò của loại công cụ này trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội dưới sự chỉ đạo bởi tư tưởng cơ bản của pháp luật. Nhà nước còn có thể pháp luật hoá các phong tục tập quán cũng như các quy định trong luật tục có nội dung phù hợp với các giá trị đạo đức và tiến bộ xã hội trở thành tập quán pháp để áp dụng cho chính cộng đồng có phong tục tập quán, luật tục đó, đồng thời thiết lập hệ thống thiết chế pháp lý để bảo đảm sự vận hành của chúng. Bằng những cách đó, pháp luật đã củng cố phong tục tập quán, luật tục, định hướng sự phát triển của chúng theo quỹ đạo của nhà nước, đảm bảo cho chúng được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế, qua đó giữ gìn, bảo lưu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Bên cạnh đó, pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc loại trừ những phong tục tập quán, luật tục có nội dung trái đạo đức xã hội, lạc hậu, phản tiến bộ, cản trở sự phát triển của cộng đồng.
3. Quan hệ giữa pháp luật và hương ước, quy ước
Có thể nói về cơ bản, hương ước và pháp luật luôn thống nhất với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau trong việc duy trì trật tự trong cộng đồng làng xã, bởi trong tiến trình của lịch sử, Việt Nam có mô hình “tự trị làng xã” vô cùng bền chặt.
Hương ước có sự hỗ trợ không nhỏ trong việc thực hiện pháp luật. Trong điều kiện pháp luật không thể quy định một cách cụ thể, chi tiết cho phù hợp với điều kiện của từng thôn, làng, hương ước, quy ước như là một sự tiếp nối của pháp luật, là sự cụ thể hoá, chi tiết hoá pháp luật vào điều kiện, hoàn cảnh của làng xã. Nhờ đó, pháp luật có thể dễ dàng đi vào đời sống cộng đồng. Bằng lời văn của hương ước, các quy định khô khan, cứng nhắc của pháp luật trở nên đơn giản, dung dị, gần gũi với cuộc sống và sự hiểu biết của người dân, vì vậy nó dễ dàng được người dân tiếp nhận. Đồng thời hương ước, quy ước còn bao hàm những quy định nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội mang tính đặc thù của từng cộng đồng thôn, làng mà pháp luật chưa hoặc không thể vươn tới được.
Ngược lại, pháp luật cũng có tác động mạnh mẽ đến hương ước, quy ước. Sự tác động này có thể diễn ra theo nhiều chiều hướng. Pháp luật thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích các cộng đồng dân cư xây dựng hương ước, quy ước. Tại Việt Nam, hiện nay Nhà nước khuyến khích các cộng đồng dân cư xây dựng hương ước, quy ước và phải tuân theo các quy định tại Nghị định 61/2023/NĐ-CP ngày 16/8/2023 của Chính phủ về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư.
4. Quan hệ giữa pháp luật và tín điều tôn giáo
Mối quan hệ giữa pháp luật với tín điều tôn giáo là một mối quan hệ khá phức tạp, bởi bên cạnh phần “đạo”, tín điều tôn giáo còn điều chỉnh là phần “đời”. Trong điều kiện tôn giáo tách biệt khỏi chính trị, thần quyền và chính quyền đã có sự tách bạch nhau, giữa tín điều tôn giáo và pháp luật vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác biệt, vừa có sự tác động qua lại lẫn nhau.
Dễ nhận thấy có nhiều nội dung trong các tín điều tôn giáo thống nhất với pháp luật. Trong những trường hợp này, niềm tin tôn giáo tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Có thể nói, nhìn chung các tôn giáo đều là sự hướng thiện, khuyên con người làm điều lành, lánh điều ác, một giáo dân tốt đồng thời là một công dân tốt. Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với tiến bộ xã hội. Trong giới luật của các tôn giáo nhìn chung đều có những quy định cấm trộm cắp, nói dối, giết người, ngoại tình... Như vậy, pháp luật và tín điều tôn giáo cùng tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội, phối hợp, hỗ trợ, bổ sung cho nhau để tạo nên sự điều chỉnh mạnh mẽ nhất đối với các quan hệ xã hội, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo. Bên cạnh đó, giữa pháp luật và tín điều tôn giáo cũng có sự khác biệt, thậm chí mâu thuẫn nhau. Trong trường hợp đó, tín điều tôn giáo trở thành sự cản trở việc thực hiện pháp luật trong các cộng đồng giáo dân.
Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người tại Điều 24 Hiến pháp 2013. “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. 2. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Như vậy, pháp luật góp phần giữ gìn và phát huy giá trị của các tín ngưỡng dân gian thể hiện những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội. Ngược lại, pháp luật nghiêm cấm các hành vi: “Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản của cá nhân, tổ chức; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”.[2]
5. Quan hệ giữa pháp luật và kỷ luật của các tổ chức xã hội
Quan hệ giữa pháp luật và kỷ luật của các tổ chức xã hội là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức này. Nhà nước có quyền lực bao trùm xã hội, tác động đến mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Vì vậy, pháp luật của nhà nước giữ vai trò chi phối đối với toàn bộ hệ thống kỷ luật của tất cả các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội chỉ được thành lập và hoạt động khi pháp luật cho phép hoặc không cấm. Hiến chương, điều lệ, nội quy... của các tổ chức xã hội phải phù hợp với pháp luật. Trong hệ thống kỷ luật của các tổ chức không được quy định các quyền và nghĩa vụ của hội viên trái với pháp luật của nhà nước, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của họ. Pháp luật có thể có quy định về thủ tục đăng ký và phê duyệt của nhà nước đối với hiến chương, điều lệ... các tổ chức xã hội, mọi quy định trong hệ thống kỷ luật của chúng nếu trái pháp luật đều bị pháp luật loại bỏ.
Quan hệ giữa pháp luật và kỷ luật của các tổ chức xã hội là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức này. Nhà nước có quyền lực bao trùm xã hội, tác động đến mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Vì vậy, pháp luật của nhà nước giữ vai trò chi phối đối với toàn bộ hệ thống kỷ luật của tất cả các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội chỉ được thành lập và hoạt động khi pháp luật cho phép hoặc không cấm. Hiến chương, điều lệ, nội quy... của các tổ chức xã hội phải phù hợp với pháp luật. Trong hệ thống kỷ luật của các tổ chức không được quy định các quyền và nghĩa vụ của hội viên trái với pháp luật của nhà nước, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của họ. Pháp luật có thể có quy định về thủ tục đăng ký và phê duyệt của nhà nước đối với hiến chương, điều lệ... các tổ chức xã hội, mọi quy định trong hệ thống kỷ luật của chúng nếu trái pháp luật đều bị pháp luật loại bỏ.
Trong điều kiện ngày nay, pháp luật trở thành công cụ hàng đầu, quan trọng và có hiệu quả nhất, công cụ không thể thay thế để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. “Pháp luật nổi lên như một công cụ “thép”, có hiệu lực mang tính uy quyền của nhà nước. Pháp luật là hạt nhân, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các quy tắc xã hội”[3]. Sở dĩ, pháp luật có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng như vậy bởi vì, so với các công cụ điều chỉnh khác, pháp luật thể hiện được những ưu thế vượt trội của mình như: Pháp luật có phạm vi tác động rộng lớn nhất; pháp luật được nhà nước tổ chức thực hiện và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp cưỡng chế nhà nước; pháp luật có hình thức xác định chặt chẽ nhất; pháp luật dễ thích ứng với điều kiện thực tế của đời sống xã hội.
Để xây dựng và hoàn thiện hệ thống công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội và đặc biệt là để xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, pháp luật luôn phải được đặt ở vị trí tối thượng. Một mặt, cần tiếp tục khẳng định và đề cao vị trí tối thượng của pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội; mặt khác, cần phát huy vai trò chuẩn mực đạo đức, giá trị văn hóa, phong tục, tập quán, hương ước, quy ước và các thiết chế xã hội trong việc hỗ trợ thực thi pháp luật. Sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật với các chuẩn mực xã hội sẽ tạo điều kiện để pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành chuẩn mực ứng xử tự giác của mỗi cá nhân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Để xây dựng và hoàn thiện hệ thống công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội và đặc biệt là để xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, pháp luật luôn phải được đặt ở vị trí tối thượng. Một mặt, cần tiếp tục khẳng định và đề cao vị trí tối thượng của pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội; mặt khác, cần phát huy vai trò chuẩn mực đạo đức, giá trị văn hóa, phong tục, tập quán, hương ước, quy ước và các thiết chế xã hội trong việc hỗ trợ thực thi pháp luật. Sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật với các chuẩn mực xã hội sẽ tạo điều kiện để pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành chuẩn mực ứng xử tự giác của mỗi cá nhân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Thạc sĩ Phan Bình Minh
Khoa Nhà nước và pháp luật
Khoa Nhà nước và pháp luật
Tin mới nhất:
- ❧ Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang dấu ấn đạt chuẩn mức 1 và định hướng chiến lược trong giai đoạn phát triển -
- ❧ Mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân* -
- ❧ Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã: Bước đi chiến lược của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang -
- ❧ Trí tuệ nhân tạo (AI) và những thách thức đối với hoạt động quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay -
- ❧ Sắp xếp thôn, tổ dân phố ở Tuyên Quang: Dân chủ, đồng thuận, phù hợp thực tiễn miền núi -