Nghiên cứu - Trao đổi
Loạt bài: "Cuộc cách mạng" trong "Công việc gốc của Đảng"
Ngày Đăng: 26/8/2026 16:3 Lượt xem: 61
Sapo: Không còn là những giờ lý luận chính trị “truyền thụ một chiều” xơ cứng, một “cuộc cách mạng” về phương pháp bắt đầu bằng mô hình “đồng giảng” đang mang đến một cách làm hoàn toàn mới trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Từ quyết sách mang tính bước ngoặt của Trung ương đến hành động quyết liệt của quê hương cách mạng, trục giảng đường đang được dịch chuyển mạnh mẽ sang không gian “đồng kiến tạo”. Đây không chỉ là câu chuyện nghiệp vụ sư phạm, mà là mệnh lệnh từ thực tiễn nhằm khắc phục từ sớm tư duy né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, rèn luyện đội ngũ cán bộ có đủ năng lực hành động, đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên phát triển mới.
KỲ 1: MỆNH LỆNH TỪ THỰC TIỄN
Sapo: Thực tiễn phát triển hiện nay của đất nước đòi hỏi một đội ngũ cán bộ có tinh thần “dám làm, biết làm, làm được việc”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị đứng trước yêu cầu phải thực sự đổi mới. Việc áp dụng mô hình “đồng giảng” để giảng viên - học viên “đồng kiến tạo” tri thức và giá trị mới được xem là một giải pháp thiết thực. Đây là bước khởi đầu nhằm đưa quyết tâm của Đảng thành hành động thực tế, giúp nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ ngay từ trên giảng đường.
Thời đại mới, yêu cầu mới
Việt Nam năm 2026, một Việt Nam đang bắt đầu chặng đường mới với quyết tâm nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào cuộc sống. Tại Tuyên Quang - mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, tinh thần đó được cụ thể hóa mạnh mẽ thông qua Kế hoạch số 74-KH/TU ngày 07/02/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TW của Bộ Chính trị.
Hành trình đó đặt trọng trách rất lớn lên vai đội ngũ cán bộ - những người trực tiếp “chèo lái” con thuyền phát triển ở cơ sở. Trong bối cảnh mới, họ phải thực sự là những hạt nhân “bản lĩnh, trí tuệ, gương mẫu, tiên phong”. Sự vận động không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội buộc mỗi cán bộ phải có kỹ năng xử lý hiệu quả các tình huống thực tiễn, vận dụng lý luận để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời chủ động điều hành, quản trị hiện đại gắn với chuyển đổi số.
Trong vòng chỉ một tháng (từ tháng 5 đến tháng 6/2026), Tỉnh ủy Tuyên Quang đã liên tiếp ban hành hai văn bản quan trọng: Nghị quyết số 87-NQ/TU về nâng cao chất lượng cán bộ các cấp và Nghị quyết số 105-NQ/TU tập trung riêng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp cơ sở. Đó là câu trả lời rõ ràng nhất, khẳng định mệnh lệnh từ thực tiễn đã được Tuyên Quang nhanh chóng cụ thể hóa thành quyết sách chiến lược cho cả giai đoạn mới.
“Công việc gốc của Đảng”
Để bồi đắp cho Tổ quốc, cho Nhân dân những thế hệ cán bộ đủ năng lực và bản lĩnh đáp ứng yêu cầu phát triển mới, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - “công việc gốc của Đảng” phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm. Đổi mới giáo dục lý luận chính trị là yêu cầu sống còn để thay đổi tư duy của người cán bộ trước những thách thức của thời đại.
Nhìn lại hành trình đã qua, Đảng ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt và nhất quán đối với công tác này nhằm nâng cao nhận thức, bồi dưỡng bản lĩnh tư tưởng chính trị và năng lực hành động cho cán bộ. Tinh thần ấy được kế thừa và tiếp tục khẳng định rõ nét qua Kết luận số 21-KL/TW (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm và tiếp tục được nâng tầm qua các quy định mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) như Quy định số 19-QĐ/TW về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đặc biệt, để đưa các chỉ đạo này vào thực chất, Ban Bí thư đã ban hành Quy định số 11-QĐ/TW về trường Chính trị chuẩn và Quy định số 350-QĐ/TW về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị - coi đây là công cụ quan trọng để chuẩn hóa toàn diện từ chương trình, bộ máy đến chất lượng người học.
Quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã chủ động triển khai hàng loạt quyết sách sát thực tế, như Nghị quyết số 30-NQ/TU về nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng; Kế hoạch số 44-KH/TU triển khai thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới theo Quy định 144-QĐ/TW.
Là đơn vị nòng cốt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ tỉnh nhà, trong giai đoạn 2021 - 2025, trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức quản lý, giảng dạy thành công 166 lớp đào tạo, bồi dưỡng với 14.800 lượt học viên. Cột mốc đặc biệt diễn ra vào đầu tháng 6 năm 2026 khi nhà trường tự hào đón bằng công nhận trường Chính trị chuẩn mức 1. Đây không chỉ là điểm tựa vững chắc mà còn là động lực tự thân để nhà trường tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ mà Đảng bộ và Nhân dân địa phương giao phó.
Đồng kiến tạo tri thức: Bước ngoặt từ mô hình đồng giảng
Những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị luôn được đổi mới cả về nội dung và phương pháp[1]. Tuy nhiên, Đảng ta cũng đã thẳng thắn chỉ rõ, trong xây dựng Đảng về tư tưởng, việc truyền bá, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng có lúc, có nơi còn xơ cứng, giáo điều; nội dung, hình thức tuyên truyền chưa phong phú[2]. Phương pháp “truyền thụ một chiều” truyền thống dễ khiến người học rơi vào trạng thái thụ động, nặng về ghi nhớ lý thuyết thuần túy thay vì gắn với tư duy thực tiễn.
Một “cuộc cách mạng” về phương pháp đã được khởi xướng. Sự ra đời của Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG ngày 20/3/2026 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành bộ quy chế về công tác trường Chính trị chính là cú hích thể chế trực tiếp nhất. Với quy định mang tính bước ngoặt: “Mỗi buổi học bố trí 02 giảng viên”, quyết định này đã cụ thể hóa sâu sắc chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Phải chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ một chiều sang mô hình giảng viên - học viên cùng đồng kiến tạo tri thức và giá trị mới; bảo đảm đào tạo không chỉ để “biết” mà để “làm”, hướng tới các giá trị công và lợi ích của Nhân dân.”
Phân tích sâu hơn về quy định này, PGS.TS Lê Văn Chiến - Viện trưởng viện Lãnh đạo học và Hành chính công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: “Đây không đơn thuần chỉ là thay đổi phương pháp giảng dạy mà thay đổi triết lý dạy và học, từ học để biết sang học để làm. Mỗi học viên đến lớp không chỉ để lĩnh hội tri thức lý luận mà còn cùng với học viên khác và giảng viên kiến tạo ra tri thức mới, cùng nhau thảo luận để tìm ra giải pháp để giải quyết những vấn để thực tiễn của đất nước, địa phương, ngành, lĩnh vực đang đặt ra, dưới ánh sáng của tri thức lý luận”.
Bám sát định hướng đó, trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang đã chủ động xây dựng các quy chuẩn chuyên môn bằng một lộ trình rất bài bản. Sau khi ban hành Kế hoạch số 183-KH/TCT ngày 03/7/2026 về tổ chức đồng giảng, nhà trường đã khẩn trương tổ chức một buổi giảng dạy thí điểm vào đầu tháng 8/2026. Chính từ bước thực chứng, rút kinh nghiệm thực tiễn này, Hướng dẫn số 05-HD/TCT, hướng dẫn tạm thời tổ chức thực hiện mô hình giảng viên, học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới và mô hình đồng giảng đã được hoàn thiện và ban hành. Đây là tiền đề vững chắc, mở đầu cho bước ngoặt đổi mới trên bục giảng trường Đảng nơi quê hương cách mạng anh hùng.
KỲ 1: MỆNH LỆNH TỪ THỰC TIỄN
Sapo: Thực tiễn phát triển hiện nay của đất nước đòi hỏi một đội ngũ cán bộ có tinh thần “dám làm, biết làm, làm được việc”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị đứng trước yêu cầu phải thực sự đổi mới. Việc áp dụng mô hình “đồng giảng” để giảng viên - học viên “đồng kiến tạo” tri thức và giá trị mới được xem là một giải pháp thiết thực. Đây là bước khởi đầu nhằm đưa quyết tâm của Đảng thành hành động thực tế, giúp nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ ngay từ trên giảng đường.
Thời đại mới, yêu cầu mới
Việt Nam năm 2026, một Việt Nam đang bắt đầu chặng đường mới với quyết tâm nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào cuộc sống. Tại Tuyên Quang - mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, tinh thần đó được cụ thể hóa mạnh mẽ thông qua Kế hoạch số 74-KH/TU ngày 07/02/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TW của Bộ Chính trị.
Hành trình đó đặt trọng trách rất lớn lên vai đội ngũ cán bộ - những người trực tiếp “chèo lái” con thuyền phát triển ở cơ sở. Trong bối cảnh mới, họ phải thực sự là những hạt nhân “bản lĩnh, trí tuệ, gương mẫu, tiên phong”. Sự vận động không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội buộc mỗi cán bộ phải có kỹ năng xử lý hiệu quả các tình huống thực tiễn, vận dụng lý luận để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời chủ động điều hành, quản trị hiện đại gắn với chuyển đổi số.
Trong vòng chỉ một tháng (từ tháng 5 đến tháng 6/2026), Tỉnh ủy Tuyên Quang đã liên tiếp ban hành hai văn bản quan trọng: Nghị quyết số 87-NQ/TU về nâng cao chất lượng cán bộ các cấp và Nghị quyết số 105-NQ/TU tập trung riêng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp cơ sở. Đó là câu trả lời rõ ràng nhất, khẳng định mệnh lệnh từ thực tiễn đã được Tuyên Quang nhanh chóng cụ thể hóa thành quyết sách chiến lược cho cả giai đoạn mới.
“Công việc gốc của Đảng”
Để bồi đắp cho Tổ quốc, cho Nhân dân những thế hệ cán bộ đủ năng lực và bản lĩnh đáp ứng yêu cầu phát triển mới, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - “công việc gốc của Đảng” phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm. Đổi mới giáo dục lý luận chính trị là yêu cầu sống còn để thay đổi tư duy của người cán bộ trước những thách thức của thời đại.
Nhìn lại hành trình đã qua, Đảng ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt và nhất quán đối với công tác này nhằm nâng cao nhận thức, bồi dưỡng bản lĩnh tư tưởng chính trị và năng lực hành động cho cán bộ. Tinh thần ấy được kế thừa và tiếp tục khẳng định rõ nét qua Kết luận số 21-KL/TW (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm và tiếp tục được nâng tầm qua các quy định mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) như Quy định số 19-QĐ/TW về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đặc biệt, để đưa các chỉ đạo này vào thực chất, Ban Bí thư đã ban hành Quy định số 11-QĐ/TW về trường Chính trị chuẩn và Quy định số 350-QĐ/TW về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị - coi đây là công cụ quan trọng để chuẩn hóa toàn diện từ chương trình, bộ máy đến chất lượng người học.
Quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã chủ động triển khai hàng loạt quyết sách sát thực tế, như Nghị quyết số 30-NQ/TU về nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng; Kế hoạch số 44-KH/TU triển khai thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới theo Quy định 144-QĐ/TW.
Là đơn vị nòng cốt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ tỉnh nhà, trong giai đoạn 2021 - 2025, trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức quản lý, giảng dạy thành công 166 lớp đào tạo, bồi dưỡng với 14.800 lượt học viên. Cột mốc đặc biệt diễn ra vào đầu tháng 6 năm 2026 khi nhà trường tự hào đón bằng công nhận trường Chính trị chuẩn mức 1. Đây không chỉ là điểm tựa vững chắc mà còn là động lực tự thân để nhà trường tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ mà Đảng bộ và Nhân dân địa phương giao phó.
Đồng kiến tạo tri thức: Bước ngoặt từ mô hình đồng giảng
Những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị luôn được đổi mới cả về nội dung và phương pháp[1]. Tuy nhiên, Đảng ta cũng đã thẳng thắn chỉ rõ, trong xây dựng Đảng về tư tưởng, việc truyền bá, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng có lúc, có nơi còn xơ cứng, giáo điều; nội dung, hình thức tuyên truyền chưa phong phú[2]. Phương pháp “truyền thụ một chiều” truyền thống dễ khiến người học rơi vào trạng thái thụ động, nặng về ghi nhớ lý thuyết thuần túy thay vì gắn với tư duy thực tiễn.
Một “cuộc cách mạng” về phương pháp đã được khởi xướng. Sự ra đời của Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG ngày 20/3/2026 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành bộ quy chế về công tác trường Chính trị chính là cú hích thể chế trực tiếp nhất. Với quy định mang tính bước ngoặt: “Mỗi buổi học bố trí 02 giảng viên”, quyết định này đã cụ thể hóa sâu sắc chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Phải chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ một chiều sang mô hình giảng viên - học viên cùng đồng kiến tạo tri thức và giá trị mới; bảo đảm đào tạo không chỉ để “biết” mà để “làm”, hướng tới các giá trị công và lợi ích của Nhân dân.”
Phân tích sâu hơn về quy định này, PGS.TS Lê Văn Chiến - Viện trưởng viện Lãnh đạo học và Hành chính công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: “Đây không đơn thuần chỉ là thay đổi phương pháp giảng dạy mà thay đổi triết lý dạy và học, từ học để biết sang học để làm. Mỗi học viên đến lớp không chỉ để lĩnh hội tri thức lý luận mà còn cùng với học viên khác và giảng viên kiến tạo ra tri thức mới, cùng nhau thảo luận để tìm ra giải pháp để giải quyết những vấn để thực tiễn của đất nước, địa phương, ngành, lĩnh vực đang đặt ra, dưới ánh sáng của tri thức lý luận”.
Bám sát định hướng đó, trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang đã chủ động xây dựng các quy chuẩn chuyên môn bằng một lộ trình rất bài bản. Sau khi ban hành Kế hoạch số 183-KH/TCT ngày 03/7/2026 về tổ chức đồng giảng, nhà trường đã khẩn trương tổ chức một buổi giảng dạy thí điểm vào đầu tháng 8/2026. Chính từ bước thực chứng, rút kinh nghiệm thực tiễn này, Hướng dẫn số 05-HD/TCT, hướng dẫn tạm thời tổ chức thực hiện mô hình giảng viên, học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới và mô hình đồng giảng đã được hoàn thiện và ban hành. Đây là tiền đề vững chắc, mở đầu cho bước ngoặt đổi mới trên bục giảng trường Đảng nơi quê hương cách mạng anh hùng.

Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang đón Bằng công nhận đạt chuẩn mức 1
Khẳng định quyết tâm sớm cụ thể hoá và đưa các quan điểm chỉ đạo của Trung ương vào thực tiễn địa phương, đồng chí Phạm Sỹ Hùng - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng tỉnh, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh: “Đứng trước yêu cầu phát triển mới, trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang xác định tinh thần: Không chần chừ, không đứng ngoài cuộc. Đổi mới không nằm ở tên gọi mô hình mà trước hết ở sự chuyển dịch trong tư duy của từng giảng viên. Nhà trường đã sẵn sàng tâm thế chủ động nhất để đưa bục giảng trường Đảng trở thành nơi rèn luyện bản lĩnh chính trị và năng lực thực thi cho đội ngũ cán bộ”.
“Mệnh lệnh” từ kỷ nguyên mới đã được phát ra rõ ràng và dứt khoát. Những quyết sách đồng bộ của Đảng từ Trung ương đến địa phương chính là cơ sở chính trị vững chắc và động lực mạnh mẽ để công tác đào tạo cán bộ bứt phá. Nhưng để vận hành trơn tru mô hình này trong thực tế, các giảng viên đã phải trải qua những áp lực “sau cánh gà” như thế nào? Giáo án đồng giảng được xây dựng ra sao? Và đâu là những giải pháp, những quyết tâm bứt phá để biến mô hình này thành chìa khóa đổi mới trên giảng đường?
KỲ 2: CUỘC CÁCH MẠNG TRÊN BỤC GIẢNG TRƯỜNG ĐẢNG
Sapo: Đổi mới phương pháp chưa bao giờ là dễ dàng. Từ áp lực cân đối lại thời lượng bài giảng để hướng tới sự đồng kiến tạo tri thức, việc đối thoại với những học viên đầy kinh nghiệm thực tế, cho đến sự cạnh tranh thông tin từ công nghệ AI - tất cả buộc mỗi giảng viên phải tìm ra những giải pháp căn cơ để biến bục giảng từ “độc thoại” sang “đối thoại”.
Thiết kế lại giờ học lý luận
Quy chế đã chỉ rõ: Mỗi buổi học bố trí 02 giảng viên. Đây không phải là phép cộng cơ học 1+1=2, càng không phải sự phân chia thời gian cứng nhắc, mà là sự thay đổi căn bản về phương thức tổ chức một buổi học lý luận chính trị. Theo đó, giảng viên thứ nhất tham gia chính về nội dung và phương pháp giảng dạy; giảng viên thứ hai hỗ trợ giảng viên thứ nhất các hoạt động và nội dung trên lớp theo sự phân công của giảng viên thứ nhất. Giáo án phải do 02 giảng viên cùng xây dựng, thể hiện rõ mô hình đồng giảng, phân chia rõ vai trò, nhiệm vụ của mỗi giảng viên trong buổi học và phải được khoa chuyên môn, Ban Giám hiệu phê duyệt trước khi thực hiện.
Từ quy định trên, trước hết phải nhận thức rõ bản chất chuyên môn để tránh hai xu hướng nhầm lẫn thường gặp trong thực tế: Một là, coi “đồng giảng” chính là mô hình “trợ giảng” đơn thuần; Hai là, thực hiện “đồng giảng” theo cách “chia ca giảng dạy” một cách cơ học. Bản chất cốt lõi của đồng giảng là sự kết tinh trí tuệ và trách nhiệm tập thể của hai giảng viên trên nền tảng một giáo án thống nhất. Trong đó, mỗi giảng viên đều chủ động đóng góp tri thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh sư phạm để cùng dẫn dắt, tương tác và chịu trách nhiệm về chất lượng bài giảng.
Đồng thời, điểm mới cốt lõi để hiện thực hóa không gian đồng kiến tạo nằm ở sự thay đổi về phân bổ thời lượng. Với chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị (ban hành kèm theo Quyết định số 3305-QĐ/HVCTQG ngày 17/6/2026 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), tỷ lệ 75% lý thuyết - 25% thảo luận trước đây đã được điều chỉnh thành 50% lý thuyết, 50% thảo luận và thực hành. Nội dung thảo luận tập trung vào kỹ năng, nghiệp vụ công tác và việc vận dụng kiến thức lý luận để giải quyết các tình huống trong hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở, phù hợp với bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quản trị hiện đại, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
“Mệnh lệnh” từ kỷ nguyên mới đã được phát ra rõ ràng và dứt khoát. Những quyết sách đồng bộ của Đảng từ Trung ương đến địa phương chính là cơ sở chính trị vững chắc và động lực mạnh mẽ để công tác đào tạo cán bộ bứt phá. Nhưng để vận hành trơn tru mô hình này trong thực tế, các giảng viên đã phải trải qua những áp lực “sau cánh gà” như thế nào? Giáo án đồng giảng được xây dựng ra sao? Và đâu là những giải pháp, những quyết tâm bứt phá để biến mô hình này thành chìa khóa đổi mới trên giảng đường?
KỲ 2: CUỘC CÁCH MẠNG TRÊN BỤC GIẢNG TRƯỜNG ĐẢNG
Sapo: Đổi mới phương pháp chưa bao giờ là dễ dàng. Từ áp lực cân đối lại thời lượng bài giảng để hướng tới sự đồng kiến tạo tri thức, việc đối thoại với những học viên đầy kinh nghiệm thực tế, cho đến sự cạnh tranh thông tin từ công nghệ AI - tất cả buộc mỗi giảng viên phải tìm ra những giải pháp căn cơ để biến bục giảng từ “độc thoại” sang “đối thoại”.
Thiết kế lại giờ học lý luận
Quy chế đã chỉ rõ: Mỗi buổi học bố trí 02 giảng viên. Đây không phải là phép cộng cơ học 1+1=2, càng không phải sự phân chia thời gian cứng nhắc, mà là sự thay đổi căn bản về phương thức tổ chức một buổi học lý luận chính trị. Theo đó, giảng viên thứ nhất tham gia chính về nội dung và phương pháp giảng dạy; giảng viên thứ hai hỗ trợ giảng viên thứ nhất các hoạt động và nội dung trên lớp theo sự phân công của giảng viên thứ nhất. Giáo án phải do 02 giảng viên cùng xây dựng, thể hiện rõ mô hình đồng giảng, phân chia rõ vai trò, nhiệm vụ của mỗi giảng viên trong buổi học và phải được khoa chuyên môn, Ban Giám hiệu phê duyệt trước khi thực hiện.
Từ quy định trên, trước hết phải nhận thức rõ bản chất chuyên môn để tránh hai xu hướng nhầm lẫn thường gặp trong thực tế: Một là, coi “đồng giảng” chính là mô hình “trợ giảng” đơn thuần; Hai là, thực hiện “đồng giảng” theo cách “chia ca giảng dạy” một cách cơ học. Bản chất cốt lõi của đồng giảng là sự kết tinh trí tuệ và trách nhiệm tập thể của hai giảng viên trên nền tảng một giáo án thống nhất. Trong đó, mỗi giảng viên đều chủ động đóng góp tri thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh sư phạm để cùng dẫn dắt, tương tác và chịu trách nhiệm về chất lượng bài giảng.
Đồng thời, điểm mới cốt lõi để hiện thực hóa không gian đồng kiến tạo nằm ở sự thay đổi về phân bổ thời lượng. Với chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị (ban hành kèm theo Quyết định số 3305-QĐ/HVCTQG ngày 17/6/2026 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), tỷ lệ 75% lý thuyết - 25% thảo luận trước đây đã được điều chỉnh thành 50% lý thuyết, 50% thảo luận và thực hành. Nội dung thảo luận tập trung vào kỹ năng, nghiệp vụ công tác và việc vận dụng kiến thức lý luận để giải quyết các tình huống trong hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở, phù hợp với bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quản trị hiện đại, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Đồng chí Phạm Sỹ Hùng, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang
phát biểu chỉ đạo tại chương trình tổ chức giảng dạy thí điểm.
phát biểu chỉ đạo tại chương trình tổ chức giảng dạy thí điểm.
Sự dịch chuyển này phản ánh một xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại, nơi bục giảng chủ động khơi dậy tính sáng tạo và khai thác hiệu quả kinh nghiệm thực tiễn phong phú của học viên. Qua đó, lý luận kinh điển không còn khô cứng mà liên tục được làm giàu từ thực tế sinh động, từng bước hình thành một môi trường chia sẻ tri thức năng động và thực chất.
Những áp lực hiện hữu
Thực hiện mô hình mới đồng nghĩa với việc đặt cả hai giảng viên đối diện với những áp lực mới. Trước hết là áp lực về mặt phương pháp và kịch bản đứng lớp. Đối với các môn lý luận chính trị vốn có dung lượng kiến thức kinh điển rất lớn, việc “nén” phần lý thuyết lại trong một nửa thời gian mà vẫn bảo đảm tính hệ thống, tính Đảng và chiều sâu khoa học là bài toán không hề đơn giản. Với 50% thời lượng dành cho thảo luận, thực hành đòi hỏi hai giảng viên phải đan cài nhịp nhàng, cùng điều phối học viên mổ xẻ các bài toán thực tế tại địa phương.
Hoạt động phối hợp này đòi hỏi sự tương tác ăn ý về mặt tư duy giữa hai giảng viên. Nếu giáo án không phân vai chi tiết, hoặc giảng viên chưa vượt qua được “cái tôi” nghề nghiệp để chủ động lắng nghe và hỗ trợ đồng nghiệp, buổi học rất dễ rơi vào cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, cháy giáo án hoặc lặp lại lối chia ca cơ học.
Bên cạnh áp lực sư phạm, giảng viên còn đối mặt với áp lực từ chính đối tượng người học. Khi bài giảng tăng thời lượng thảo luận, tình huống, khó khăn lớn nhất là phông kinh nghiệm thực tế của giảng viên. Học viên trường Đảng đa phần là cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ quản lý hoặc nằm trong quy hoạch lãnh đạo từ cấp cơ sở đến các sở, ban, ngành - những người hằng ngày trực tiếp va chạm và giải quyết thực tiễn công vụ. Khi giảng đường trở thành không gian đối thoại mở, giảng viên phải đối mặt với những câu hỏi phản biện, những tình huống hóc búa mang tính “sát sườn” do chính học viên đặt ra từ thực tế. Nếu chỉ nắm lý thuyết suông trong giáo trình mà thiếu kiến thức thực tiễn, những cuộc trao đổi rất dễ rơi vào hình thức hoặc tranh luận lan man.
Chưa dừng lại ở đó, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) tiếp tục đặt ra thách thức mới cho cả người dạy và người học trên giảng đường hiện đại. Không thể phủ nhận việc ứng dụng công nghệ là cơ hội lớn để mở rộng không gian tri thức, song xu thế này cũng đặt ra nhiều thách thức liên quan đến độ tin cậy của thông tin, lập trường tư tưởng và năng lực làm chủ của người sử dụng. Thực tế đó đòi hỏi nhà trường phải kiểm soát chặt chẽ, đồng thời đặt ra áp lực cho giảng viên trong việc nâng tầm chất lượng giảng dạy để công nghệ không thể thay thế vai trò dẫn dắt trên bục giảng.
Đồng chí Phùng Thị Hà - Phó trưởng khoa, khoa Xây dựng Đảng chia sẻ: “Để mô hình đi đúng hướng, Khoa chuyên môn giữ vai trò “gác cổng” ngay từ khâu thẩm định giáo án, bảo đảm tính chuẩn mực về nội dung và hiệu quả về phương pháp. Khoa tổ chức dự giờ cho từng cặp giảng viên để cùng lắng nghe, góp ý và rút kinh nghiệm. Mục tiêu là tạo không gian cởi mở để trí tuệ tập thể giúp mỗi giảng viên nâng cao kỹ năng và hoàn thiện sự ăn ý trên bục giảng.”
Là một giảng viên trực tiếp đảm nhận thực hiện thí điểm giảng dạy theo mô hình mới, đồng chí cũng trải lòng: “Khó khăn lớn nhất chính là sự ăn ý trong phối hợp và thiết kế được các tình huống “động” - những bài toán thực tế đủ sức gợi mở để học viên muốn cất tiếng nói. Nhưng đồng thời, đây cũng là động lực để mỗi giảng viên gạt bỏ cái tôi, cùng nhau hoàn thiện kịch bản lên lớp và đa dạng hóa phương pháp. Nếu không chủ động thay đổi, làm mới và nâng tầm chuyên môn nghiệp vụ, giảng viên sẽ tự loại mình khỏi yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn”.
Những người tiên phong đi tìm lời giải
Sự dịch chuyển sang mô hình giảng viên - học viên đồng kiến tạo tri thức và giá trị mới là xu thế tất yếu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay. Trước những áp lực hiện hữu từ quy chế mới, đội ngũ giảng viên không chọn cách bị động lo lắng hay đi theo lối mòn mà chủ động tìm kiếm các giải pháp thực tế ngay từ khâu xây dựng và hoàn thiện kịch bản bài giảng.
Thứ nhất, thống nhất kịch bản và phân vai cụ thể. Để có một giáo án đồng giảng thực chất, hai giảng viên phải thống nhất mạch nội dung và mốc thời gian. Việc phân vai được tính toán chi tiết: giảng viên thứ nhất chủ trì khung lý luận cốt lõi, giảng viên thứ hai phối hợp đan cài các ví dụ thực tiễn hoặc gợi mở thảo luận. Quá trình trao đổi này giúp hai đồng nghiệp hiểu rõ ý đồ sư phạm của nhau, đảm bảo khi lên lớp việc tung - hứng diễn ra tự nhiên, không bị chồng chéo hay ngắt quãng mạch tư duy của học viên.
Thứ hai, chuẩn bị các bài toán thực tế của địa phương. Để 50% thời lượng thảo luận không rơi vào hình thức, khâu thiết kế tình huống đóng vai trò quan trọng. Giảng viên tập trung đưa vào các vấn đề thực tế đang đặt ra tại địa phương - như vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, việc sắp xếp tinh gọn bộ máy hay áp lực chuyển đổi số ở cấp xã. Việc chuẩn bị kỹ các tình huống này giúp giảng viên tự tin giữ vai trò định hướng, điều phối học viên cùng tham gia thảo luận và tìm giải pháp.
Thứ ba, đổi mới cách đặt vấn đề thảo luận. Để tránh việc học viên dùng AI tra cứu các câu trả lời lý thuyết có sẵn, giảng viên tập trung đổi mới đề bài ngay từ khâu soạn giáo án. Khi đề bài đòi hỏi kinh nghiệm thực tế, học viên bắt buộc phải tự suy nghĩ và trao đổi từ góc độ công việc của mình, thay vì phụ thuộc vào công nghệ.
Thứ tư, tăng cường tập giảng và thông qua bài giảng. Nhận thức rõ đây là phương pháp mới, các khoa chuyên môn cần chủ động tổ chức các buổi góp ý giáo án và đứng lớp giả định. Qua việc cùng dự giờ, phân tích nhịp đan cài giữa hai giảng viên, các đồng nghiệp kịp thời chỉ ra những điểm vấp, những khoảng thời gian bị chênh để cùng gọt giũa, giúp giảng viên vững vàng tâm lý trước khi bước vào giảng dạy chính thức.
Những áp lực hiện hữu
Thực hiện mô hình mới đồng nghĩa với việc đặt cả hai giảng viên đối diện với những áp lực mới. Trước hết là áp lực về mặt phương pháp và kịch bản đứng lớp. Đối với các môn lý luận chính trị vốn có dung lượng kiến thức kinh điển rất lớn, việc “nén” phần lý thuyết lại trong một nửa thời gian mà vẫn bảo đảm tính hệ thống, tính Đảng và chiều sâu khoa học là bài toán không hề đơn giản. Với 50% thời lượng dành cho thảo luận, thực hành đòi hỏi hai giảng viên phải đan cài nhịp nhàng, cùng điều phối học viên mổ xẻ các bài toán thực tế tại địa phương.
Hoạt động phối hợp này đòi hỏi sự tương tác ăn ý về mặt tư duy giữa hai giảng viên. Nếu giáo án không phân vai chi tiết, hoặc giảng viên chưa vượt qua được “cái tôi” nghề nghiệp để chủ động lắng nghe và hỗ trợ đồng nghiệp, buổi học rất dễ rơi vào cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, cháy giáo án hoặc lặp lại lối chia ca cơ học.
Bên cạnh áp lực sư phạm, giảng viên còn đối mặt với áp lực từ chính đối tượng người học. Khi bài giảng tăng thời lượng thảo luận, tình huống, khó khăn lớn nhất là phông kinh nghiệm thực tế của giảng viên. Học viên trường Đảng đa phần là cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ quản lý hoặc nằm trong quy hoạch lãnh đạo từ cấp cơ sở đến các sở, ban, ngành - những người hằng ngày trực tiếp va chạm và giải quyết thực tiễn công vụ. Khi giảng đường trở thành không gian đối thoại mở, giảng viên phải đối mặt với những câu hỏi phản biện, những tình huống hóc búa mang tính “sát sườn” do chính học viên đặt ra từ thực tế. Nếu chỉ nắm lý thuyết suông trong giáo trình mà thiếu kiến thức thực tiễn, những cuộc trao đổi rất dễ rơi vào hình thức hoặc tranh luận lan man.
Chưa dừng lại ở đó, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) tiếp tục đặt ra thách thức mới cho cả người dạy và người học trên giảng đường hiện đại. Không thể phủ nhận việc ứng dụng công nghệ là cơ hội lớn để mở rộng không gian tri thức, song xu thế này cũng đặt ra nhiều thách thức liên quan đến độ tin cậy của thông tin, lập trường tư tưởng và năng lực làm chủ của người sử dụng. Thực tế đó đòi hỏi nhà trường phải kiểm soát chặt chẽ, đồng thời đặt ra áp lực cho giảng viên trong việc nâng tầm chất lượng giảng dạy để công nghệ không thể thay thế vai trò dẫn dắt trên bục giảng.
Đồng chí Phùng Thị Hà - Phó trưởng khoa, khoa Xây dựng Đảng chia sẻ: “Để mô hình đi đúng hướng, Khoa chuyên môn giữ vai trò “gác cổng” ngay từ khâu thẩm định giáo án, bảo đảm tính chuẩn mực về nội dung và hiệu quả về phương pháp. Khoa tổ chức dự giờ cho từng cặp giảng viên để cùng lắng nghe, góp ý và rút kinh nghiệm. Mục tiêu là tạo không gian cởi mở để trí tuệ tập thể giúp mỗi giảng viên nâng cao kỹ năng và hoàn thiện sự ăn ý trên bục giảng.”
Là một giảng viên trực tiếp đảm nhận thực hiện thí điểm giảng dạy theo mô hình mới, đồng chí cũng trải lòng: “Khó khăn lớn nhất chính là sự ăn ý trong phối hợp và thiết kế được các tình huống “động” - những bài toán thực tế đủ sức gợi mở để học viên muốn cất tiếng nói. Nhưng đồng thời, đây cũng là động lực để mỗi giảng viên gạt bỏ cái tôi, cùng nhau hoàn thiện kịch bản lên lớp và đa dạng hóa phương pháp. Nếu không chủ động thay đổi, làm mới và nâng tầm chuyên môn nghiệp vụ, giảng viên sẽ tự loại mình khỏi yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn”.
Những người tiên phong đi tìm lời giải
Sự dịch chuyển sang mô hình giảng viên - học viên đồng kiến tạo tri thức và giá trị mới là xu thế tất yếu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay. Trước những áp lực hiện hữu từ quy chế mới, đội ngũ giảng viên không chọn cách bị động lo lắng hay đi theo lối mòn mà chủ động tìm kiếm các giải pháp thực tế ngay từ khâu xây dựng và hoàn thiện kịch bản bài giảng.
Thứ nhất, thống nhất kịch bản và phân vai cụ thể. Để có một giáo án đồng giảng thực chất, hai giảng viên phải thống nhất mạch nội dung và mốc thời gian. Việc phân vai được tính toán chi tiết: giảng viên thứ nhất chủ trì khung lý luận cốt lõi, giảng viên thứ hai phối hợp đan cài các ví dụ thực tiễn hoặc gợi mở thảo luận. Quá trình trao đổi này giúp hai đồng nghiệp hiểu rõ ý đồ sư phạm của nhau, đảm bảo khi lên lớp việc tung - hứng diễn ra tự nhiên, không bị chồng chéo hay ngắt quãng mạch tư duy của học viên.
Thứ hai, chuẩn bị các bài toán thực tế của địa phương. Để 50% thời lượng thảo luận không rơi vào hình thức, khâu thiết kế tình huống đóng vai trò quan trọng. Giảng viên tập trung đưa vào các vấn đề thực tế đang đặt ra tại địa phương - như vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, việc sắp xếp tinh gọn bộ máy hay áp lực chuyển đổi số ở cấp xã. Việc chuẩn bị kỹ các tình huống này giúp giảng viên tự tin giữ vai trò định hướng, điều phối học viên cùng tham gia thảo luận và tìm giải pháp.
Thứ ba, đổi mới cách đặt vấn đề thảo luận. Để tránh việc học viên dùng AI tra cứu các câu trả lời lý thuyết có sẵn, giảng viên tập trung đổi mới đề bài ngay từ khâu soạn giáo án. Khi đề bài đòi hỏi kinh nghiệm thực tế, học viên bắt buộc phải tự suy nghĩ và trao đổi từ góc độ công việc của mình, thay vì phụ thuộc vào công nghệ.
Thứ tư, tăng cường tập giảng và thông qua bài giảng. Nhận thức rõ đây là phương pháp mới, các khoa chuyên môn cần chủ động tổ chức các buổi góp ý giáo án và đứng lớp giả định. Qua việc cùng dự giờ, phân tích nhịp đan cài giữa hai giảng viên, các đồng nghiệp kịp thời chỉ ra những điểm vấp, những khoảng thời gian bị chênh để cùng gọt giũa, giúp giảng viên vững vàng tâm lý trước khi bước vào giảng dạy chính thức.

Cặp giảng viên thực hành mô hình “đồng giảng” và “giảng viên, học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới”
Đánh giá về bước chuyển dịch này từ góc nhìn của một nhà giáo giàu kinh nghiệm, đồng chí Đinh Thị Loan - Nguyên Trưởng khoa, Nhà nước và Pháp luật, trường Chính trị tỉnh Hà Giang (trước sáp nhập) chia sẻ: “Thực tiễn phát triển và đối tượng người học hiện nay đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ trong giảng dạy lý luận chính trị. Dù bước đầu không tránh khỏi những bỡ ngỡ về thói quen sư phạm, nhưng mô hình mới này đã “kích hoạt” sự sáng tạo của giảng viên ngay từ khâu chuẩn bị bài giảng cho đến khi lên lớp. Khi học viên chủ động mang chính những va vấp thực tế ra thảo luận, bục giảng sẽ thực sự trở thành nơi thầy và trò cùng đồng kiến tạo nên những tri thức mới”.
Khi bục giảng trở thành không gian đối thoại mở, mỗi giờ học lý luận không còn là sự truyền đạt một chiều. Học viên không chỉ được củng cố nền tảng lý luận, mà còn được rèn luyện phương pháp tư duy, kỹ năng phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Đó chính là hành trang thiết thực nhất để mỗi cán bộ vận dụng vào công tác thực tiễn tại cơ sở.
Sự chủ động, cẩn trọng của mỗi thầy, cô từ khâu chuẩn bị giáo án hôm nay không đơn thuần là việc đáp ứng một quy chế mới. Đó là sự chuẩn bị nghiêm túc, trách nhiệm để đào tạo nên những thế hệ cán bộ cơ sở vững vàng về lý luận, bản lĩnh trong tư duy và quyết liệt trong hành động.
KỲ 3: TỪ “ĐỒNG GIẢNG” ĐẾN “ĐỒNG KIẾN TẠO” -
NÂNG TẦM CÁN BỘ TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH
Sapo: Mô hình “đồng giảng” không dừng lại ở một phương pháp sư phạm đơn thuần, mà đang tạo ra sự chuyển dịch căn bản trong nhận thức của người học ngay trên giảng đường trường Đảng. Từ “truyền thụ một chiều” sang “đồng kiến tạo”, mỗi cán bộ cơ sở bước đầu được rèn luyện kỹ năng phản biện để giải quyết các bài toán khó của địa phương. Đây chính là thước đo then chốt để công tác đào tạo lý luận chính trị thực sự gắn liền với hơi thở thực tiễn.
Để lý luận không còn là “lý luận suông”
Ý nghĩa sâu sắc nhất của mô hình này nằm ở việc nâng tầm bản lĩnh chính trị cho người cán bộ. Trong bối cảnh toàn Đảng đang đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW, việc đổi mới phương pháp giảng dạy này chính là hành động cụ thể để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức hời hợt hoặc xa rời thực tiễn ở một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Giảng đường không còn là nơi tiếp nhận lý luận chính trị một cách thụ động, mà đã trở thành môi trường thực hành tư duy. Quá trình “đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới” đòi hỏi giảng viên và học viên cùng phân tích các bài toán thực tế từ cơ sở. Lý luận lúc này không còn là những khái niệm khô khan trong giáo trình, mà trở thành công cụ để nhận diện và tìm lời giải cho những vướng mắc trong công tác.
Khi bục giảng trở thành không gian đối thoại mở, mỗi giờ học lý luận không còn là sự truyền đạt một chiều. Học viên không chỉ được củng cố nền tảng lý luận, mà còn được rèn luyện phương pháp tư duy, kỹ năng phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Đó chính là hành trang thiết thực nhất để mỗi cán bộ vận dụng vào công tác thực tiễn tại cơ sở.
Sự chủ động, cẩn trọng của mỗi thầy, cô từ khâu chuẩn bị giáo án hôm nay không đơn thuần là việc đáp ứng một quy chế mới. Đó là sự chuẩn bị nghiêm túc, trách nhiệm để đào tạo nên những thế hệ cán bộ cơ sở vững vàng về lý luận, bản lĩnh trong tư duy và quyết liệt trong hành động.
KỲ 3: TỪ “ĐỒNG GIẢNG” ĐẾN “ĐỒNG KIẾN TẠO” -
NÂNG TẦM CÁN BỘ TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH
Sapo: Mô hình “đồng giảng” không dừng lại ở một phương pháp sư phạm đơn thuần, mà đang tạo ra sự chuyển dịch căn bản trong nhận thức của người học ngay trên giảng đường trường Đảng. Từ “truyền thụ một chiều” sang “đồng kiến tạo”, mỗi cán bộ cơ sở bước đầu được rèn luyện kỹ năng phản biện để giải quyết các bài toán khó của địa phương. Đây chính là thước đo then chốt để công tác đào tạo lý luận chính trị thực sự gắn liền với hơi thở thực tiễn.
Để lý luận không còn là “lý luận suông”
Ý nghĩa sâu sắc nhất của mô hình này nằm ở việc nâng tầm bản lĩnh chính trị cho người cán bộ. Trong bối cảnh toàn Đảng đang đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW, việc đổi mới phương pháp giảng dạy này chính là hành động cụ thể để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức hời hợt hoặc xa rời thực tiễn ở một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Giảng đường không còn là nơi tiếp nhận lý luận chính trị một cách thụ động, mà đã trở thành môi trường thực hành tư duy. Quá trình “đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới” đòi hỏi giảng viên và học viên cùng phân tích các bài toán thực tế từ cơ sở. Lý luận lúc này không còn là những khái niệm khô khan trong giáo trình, mà trở thành công cụ để nhận diện và tìm lời giải cho những vướng mắc trong công tác.

Không khí thảo luận sôi nổi của các học viên lớp Trung cấp Lý luận chính trị A01.2026, trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang
Những buổi thảo luận về các tình huống thời sự - từ công tác quản trị chính quyền số, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng hay quản lý đất đai tại địa phương, đến giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập tỉnh hoặc cách thức quản trị, bàn giao tài sản công từ cấp huyện về cấp xã - giúp tư duy của người cán bộ được rèn luyện một cách thực chất. Đây là sự chuẩn bị cần thiết về mặt con người, tạo ra đội ngũ cán bộ có thế giới quan khoa học và tư duy quản trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Chuyển hóa thành năng lực hành động
Thực tế công tác xây dựng Đảng hiện nay cho thấy, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu tinh thần đổi mới sáng tạo vẫn còn tồn tại ở một bộ phận cán bộ. Giải quyết “căn bệnh” này không thể chỉ bằng những nghị quyết trên giấy, mà cần những mô hình thực thi cụ thể ngay tại “cái nôi” đào tạo cán bộ.
Mô hình “đồng kiến tạo” được vận hành với mục tiêu tạo ra một không gian đối thoại mở, nơi sự tranh luận trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi học viên. Trên giảng đường, người học không còn tiếp thu kiến thức một chiều, mà trực tiếp tham gia luận giải các tình huống sát với thực tế địa phương. Quá trình này giúp học viên bước ra khỏi cách học lý thuyết thuần túy, từng bước rèn luyện phương pháp làm việc dân chủ, cầu thị và khoa học khi xử lý công việc.

Cán bộ cơ sở hướng dẫn Nhân dân giải quyết thủ tục hành chính
Nói về những kỳ vọng từ thực tiễn cơ sở, Đồng chí Vàng Seo Cón - Uỷ viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy phường Hà Giang 2, tỉnh Tuyên Quang chia sẻ: “Thực tiễn ở cơ sở đang rất cần những cán bộ có năng lực thực thi vượt trội để tháo gỡ điểm nghẽn về tình trạng đùn đẩy, né tránh hay lúng túng trước nhiệm vụ mới. Địa phương đặt nhiều kỳ vọng vào mô hình “đồng kiến tạo” tại trường Chính trị. Chúng tôi tin tưởng rằng, khi được thực hành trong môi trường tương tác đa chiều và bám sát thực tiễn, đội ngũ cán bộ cơ sở sẽ có sự chuyển biến rõ nét về tư duy, tác phong và bản lĩnh để đưa các quyết sách của Đảng thực sự đi vào cuộc sống.”
Hiện thực hóa khát vọng Việt Nam vươn mình
Hiệu quả của cuộc cách mạng trên bục giảng trường Đảng suy cho cùng phải được đo bằng năng lực hành động của người cán bộ. Đảng và Nhà nước ta đã định hướng rõ nét nhiệm vụ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thật sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước”[3].
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang cũng xác định một trong ba đột phá chiến lược của nhiệm kỳ là: “Phát triển toàn diện nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thực sự tiêu biểu, có đủ phẩm chất, năng lực, tư duy đổi mới, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển”[4].
Từ “đồng giảng” đến “đồng kiến tạo” chính là bước đi cụ thể ngay từ giảng đường nhằm cụ thể hóa mục tiêu trên. Khi học viên trực tiếp tham gia tháo gỡ vấn đề, lý luận không còn là kiến thức học thuộc để trả bài. Nó trở thành kim chỉ nam cho tư duy, giúp người cán bộ định hình phản xạ xử lý công việc một cách chủ động và căn cơ hơn khi trở về cơ sở.
Nhận thức rõ những đòi hỏi từ thực tiễn, nhà trường xác định việc triển khai mô hình cần một lộ trình chuẩn bị bài bản, kỹ lưỡng. Khẳng định tầm nhìn và quyết tâm chính trị của nhà trường trong giai đoạn mới, đồng chí Phạm Sỹ Hùng, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh: “Đổi mới phương pháp không thuần túy là sự thay đổi về kỹ năng sư phạm, mà là yêu cầu tự thân trong công tác xây dựng Đảng. Nhà trường tập trung phát huy không gian “đồng kiến tạo” - nơi lý luận được soi chiếu qua những bài toán thực tiễn từ cơ sở. Hiệu quả công việc của học viên khi về địa phương chính là thước đo thực chất nhất, và cũng là lời cam kết trách nhiệm của trường Chính trị Tuyên Quang trước Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà.”
Dẫu phía trước còn nhiều thử thách để mô hình thực sự thẩm thấu sâu rộng, nhưng sự chuẩn bị bài bản và quyết tâm đổi mới hôm nay chính là tiền đề vững chắc. Sự chuyển dịch trên bục giảng sẽ trở thành dòng chảy xuyên suốt, tạo ra những chuyển biến thực chất trong tư duy và phương pháp làm việc của người cán bộ, góp phần cùng địa phương và cả nước cất cánh, hiện thực hóa khát vọng Việt Nam vươn mình./.
Hiện thực hóa khát vọng Việt Nam vươn mình
Hiệu quả của cuộc cách mạng trên bục giảng trường Đảng suy cho cùng phải được đo bằng năng lực hành động của người cán bộ. Đảng và Nhà nước ta đã định hướng rõ nét nhiệm vụ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thật sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước”[3].
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang cũng xác định một trong ba đột phá chiến lược của nhiệm kỳ là: “Phát triển toàn diện nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thực sự tiêu biểu, có đủ phẩm chất, năng lực, tư duy đổi mới, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển”[4].
Từ “đồng giảng” đến “đồng kiến tạo” chính là bước đi cụ thể ngay từ giảng đường nhằm cụ thể hóa mục tiêu trên. Khi học viên trực tiếp tham gia tháo gỡ vấn đề, lý luận không còn là kiến thức học thuộc để trả bài. Nó trở thành kim chỉ nam cho tư duy, giúp người cán bộ định hình phản xạ xử lý công việc một cách chủ động và căn cơ hơn khi trở về cơ sở.
Nhận thức rõ những đòi hỏi từ thực tiễn, nhà trường xác định việc triển khai mô hình cần một lộ trình chuẩn bị bài bản, kỹ lưỡng. Khẳng định tầm nhìn và quyết tâm chính trị của nhà trường trong giai đoạn mới, đồng chí Phạm Sỹ Hùng, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh: “Đổi mới phương pháp không thuần túy là sự thay đổi về kỹ năng sư phạm, mà là yêu cầu tự thân trong công tác xây dựng Đảng. Nhà trường tập trung phát huy không gian “đồng kiến tạo” - nơi lý luận được soi chiếu qua những bài toán thực tiễn từ cơ sở. Hiệu quả công việc của học viên khi về địa phương chính là thước đo thực chất nhất, và cũng là lời cam kết trách nhiệm của trường Chính trị Tuyên Quang trước Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà.”
Dẫu phía trước còn nhiều thử thách để mô hình thực sự thẩm thấu sâu rộng, nhưng sự chuẩn bị bài bản và quyết tâm đổi mới hôm nay chính là tiền đề vững chắc. Sự chuyển dịch trên bục giảng sẽ trở thành dòng chảy xuyên suốt, tạo ra những chuyển biến thực chất trong tư duy và phương pháp làm việc của người cán bộ, góp phần cùng địa phương và cả nước cất cánh, hiện thực hóa khát vọng Việt Nam vươn mình./.
Nhóm tác giả: Nguyễn Thị Lan, Đỗ Thị Hương Giang, Hoàng Thị Hải Yến
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toòa quốc lần thứ XIV, tập II, trang 153.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toòa quốc lần thứ XIV, tập II, trang 224.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toòa quốc lần thứ XIV, tập II, trang 388.
[4] Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, trang 125
Các tin liên quan:
- ❧ "Đất nước là quê hương" - Giữ ký ức làng trong không gian mới -
- ❧ Từ Chỉ thị 10 đến Chỉ thị 50: Đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới -
- ❧ Khéo vận động, "mở đường" trong lòng dân -
- ❧ Từ bài học Đại đoàn kết mùa Thu năm 1945 đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới -
- ❧ Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang dấu ấn đạt chuẩn mức 1 và định hướng chiến lược trong giai đoạn phát triển -