Nghiên cứu - Trao đổi
Dân là gốc, thước đo cao nhất của mọi chính sách - nhìn từ Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Ngày Đăng: 13/3/2026 9:46 Lượt xem: 231
Xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, quan điểm “Dân là gốc” luôn được Đảng ta khẳng định như một nguyên lý căn bản, chi phối mọi đường lối, chủ trương và chính sách. Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Tinh thần ấy tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong hoạch định và thực thi mọi chính sách phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
1. “Dân là gốc”- giá trị cốt lõi trong quan điểm của Đảng
Tư tưởng “Dân là gốc” không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là kết tinh của truyền thống dân tộc, chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[1]. Người nhấn mạnh, mọi thành công hay thất bại của cách mạng đều bắt nguồn từ việc có dựa vào dân hay không, có vì lợi ích của dân hay không. Kế thừa và phát triển tư tưởng ấy, qua các kỳ đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân, tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"[2]. Đến Đại hội XIV, nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết, xây dựng Đảng và đất nước vững mạnh. Trong bối cảnh đất nước đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và hội nhập sâu rộng, quan điểm “Dân là gốc” được nâng lên tầm nguyên tắc nền tảng trong xây dựng và thực thi chính sách, đồng thời là thước đo hiệu quả của hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội XIV nêu rõ: “Quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”[3]. Quan điểm này đã khẳng định và nâng tầm quan điểm “Dân là gốc”, nhấn mạnh và đặt ra yêu cầu, mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Qua đó đặt ra tiêu chuẩn rất cụ thể cho công tác hoạch định và thực thi chính sách. Điều này đòi hỏi các cấp, các ngành phải lắng nghe dân nhiều hơn, dựa vào thực tiễn đời sống của Nhân dân, tránh tình trạng chính sách xa rời thực tế hoặc mang tính áp đặt hành chính.
2. Đại hội XIV: Lấy nhân dân làm trung tâm của phát triển
Văn kiện Đại hội XIV khẳng định rõ: “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[4]. Quan điểm này khẳng định, nhân dân không chỉ là đối tượng được phục vụ mà được xác định rõ là chủ thể và trung tâm của mọi chính sách phát triển. Đây là sự chuyển mạnh từ tư duy “quản lý- ban hành” sang tư duy “phục vụ- đồng hành- kiến tạo”. Có thể nói, đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận và thực tiễn của Đảng về vai trò của nhân dân trong kỷ nguyên mới. Nếu trước đây, tăng trưởng kinh tế thường được xem là mục tiêu hàng đầu, thì nay Đại hội XIV nhấn mạnh chất lượng tăng trưởng, công bằng xã hội, an sinh, phúc lợi và hạnh phúc của nhân dân. Mọi chính sách, từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng của Nhân dân và hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
3. Dân là chủ thể trong hoạch định và thực thi chính sách
Một điểm nổi bật trong tinh thần Đại hội XIV là yêu cầu phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân. Không chỉ dừng lại ở việc “vì dân”, Đảng nhấn mạnh hơn đến “dựa vào dân”, “do dân tham gia”, coi Nhân dân là chủ thể trực tiếp của quá trình phát triển. Tiếp tục kế thừa tinh thần trong văn kiện Đại hội XIII, Đại hội XIV đặt ra yêu cầu: Mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia, giám sát và phản biện xã hội của nhân dân; tiếp tục “kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ.”[5]. Quan điểm này tiếp tục khẳng định nhân dân là chủ thể và là đối tượng thụ hưởng trong việc hoạch định và ban hành mọi chủ trương, chính sách. Bên cạnh đó coi trọng sự hài lòng, tín nhiệm của nhân dân, điều này thể hiện bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị quốc gia hiện đại, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
4. “Dân là gốc” trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Đại hội XIV xác định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”[6]. Trong đó, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân phải được pháp luật bảo vệ ở mức cao nhất. Tinh thần “Dân là gốc” được cụ thể hóa thông qua việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng minh bạch, dễ tiếp cận, dễ thực hiện. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, giảm phiền hà, chi phí cho người dân và doanh nghiệp.Việc coi trọng quyền con người, quyền công dân không chỉ là yêu cầu nội tại của phát triển bền vững mà còn thể hiện bản chất nhân văn, tiến bộ của chế độ ta.
5. Lấy nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất
Một điểm nhấn có ý nghĩa sâu sắc trong Văn kiện Đại hội XIV là việc nhấn mạnh mục tiêu phát triển là “cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân”[7]. Trong đó, Đại hội đặt trọng tâm vào một số chỉ tiêu chính như: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm; Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giữa đô thị và nông thôn; Chăm lo tốt hơn cho các nhóm yếu thế: người nghèo, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi, trẻ em. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất. Như vậy, thành công của chính sách không chỉ được đo bằng con số tăng trưởng GDP, mà quan trọng hơn là cuộc sống ấm no, an toàn, hạnh phúc và niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Như vậy, quan điểm “Dân là gốc” không chỉ là di sản quý báu của cách mạng Việt Nam, mà còn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi chính sách trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Trong bối cảnh mới, việc quán triệt và hiện thực hóa sâu sắc quan điểm này chính là điều kiện tiên quyết để củng cố niềm tin của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Lấy dân làm gốc, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất- đó không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là lời cam kết nhất quán, xuyên suốt của Đảng đối với nhân dân Việt Nam trên con đường bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và nhân văn.
Tài liệu tham khảo:
1. “Dân là gốc”- giá trị cốt lõi trong quan điểm của Đảng
Tư tưởng “Dân là gốc” không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là kết tinh của truyền thống dân tộc, chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[1]. Người nhấn mạnh, mọi thành công hay thất bại của cách mạng đều bắt nguồn từ việc có dựa vào dân hay không, có vì lợi ích của dân hay không. Kế thừa và phát triển tư tưởng ấy, qua các kỳ đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân, tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"[2]. Đến Đại hội XIV, nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết, xây dựng Đảng và đất nước vững mạnh. Trong bối cảnh đất nước đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và hội nhập sâu rộng, quan điểm “Dân là gốc” được nâng lên tầm nguyên tắc nền tảng trong xây dựng và thực thi chính sách, đồng thời là thước đo hiệu quả của hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội XIV nêu rõ: “Quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”[3]. Quan điểm này đã khẳng định và nâng tầm quan điểm “Dân là gốc”, nhấn mạnh và đặt ra yêu cầu, mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Qua đó đặt ra tiêu chuẩn rất cụ thể cho công tác hoạch định và thực thi chính sách. Điều này đòi hỏi các cấp, các ngành phải lắng nghe dân nhiều hơn, dựa vào thực tiễn đời sống của Nhân dân, tránh tình trạng chính sách xa rời thực tế hoặc mang tính áp đặt hành chính.
2. Đại hội XIV: Lấy nhân dân làm trung tâm của phát triển
Văn kiện Đại hội XIV khẳng định rõ: “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[4]. Quan điểm này khẳng định, nhân dân không chỉ là đối tượng được phục vụ mà được xác định rõ là chủ thể và trung tâm của mọi chính sách phát triển. Đây là sự chuyển mạnh từ tư duy “quản lý- ban hành” sang tư duy “phục vụ- đồng hành- kiến tạo”. Có thể nói, đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận và thực tiễn của Đảng về vai trò của nhân dân trong kỷ nguyên mới. Nếu trước đây, tăng trưởng kinh tế thường được xem là mục tiêu hàng đầu, thì nay Đại hội XIV nhấn mạnh chất lượng tăng trưởng, công bằng xã hội, an sinh, phúc lợi và hạnh phúc của nhân dân. Mọi chính sách, từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng của Nhân dân và hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
3. Dân là chủ thể trong hoạch định và thực thi chính sách
Một điểm nổi bật trong tinh thần Đại hội XIV là yêu cầu phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân. Không chỉ dừng lại ở việc “vì dân”, Đảng nhấn mạnh hơn đến “dựa vào dân”, “do dân tham gia”, coi Nhân dân là chủ thể trực tiếp của quá trình phát triển. Tiếp tục kế thừa tinh thần trong văn kiện Đại hội XIII, Đại hội XIV đặt ra yêu cầu: Mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia, giám sát và phản biện xã hội của nhân dân; tiếp tục “kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ.”[5]. Quan điểm này tiếp tục khẳng định nhân dân là chủ thể và là đối tượng thụ hưởng trong việc hoạch định và ban hành mọi chủ trương, chính sách. Bên cạnh đó coi trọng sự hài lòng, tín nhiệm của nhân dân, điều này thể hiện bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị quốc gia hiện đại, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
4. “Dân là gốc” trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Đại hội XIV xác định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”[6]. Trong đó, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân phải được pháp luật bảo vệ ở mức cao nhất. Tinh thần “Dân là gốc” được cụ thể hóa thông qua việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng minh bạch, dễ tiếp cận, dễ thực hiện. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, giảm phiền hà, chi phí cho người dân và doanh nghiệp.Việc coi trọng quyền con người, quyền công dân không chỉ là yêu cầu nội tại của phát triển bền vững mà còn thể hiện bản chất nhân văn, tiến bộ của chế độ ta.
5. Lấy nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất
Một điểm nhấn có ý nghĩa sâu sắc trong Văn kiện Đại hội XIV là việc nhấn mạnh mục tiêu phát triển là “cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân”[7]. Trong đó, Đại hội đặt trọng tâm vào một số chỉ tiêu chính như: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm; Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giữa đô thị và nông thôn; Chăm lo tốt hơn cho các nhóm yếu thế: người nghèo, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi, trẻ em. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất. Như vậy, thành công của chính sách không chỉ được đo bằng con số tăng trưởng GDP, mà quan trọng hơn là cuộc sống ấm no, an toàn, hạnh phúc và niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Như vậy, quan điểm “Dân là gốc” không chỉ là di sản quý báu của cách mạng Việt Nam, mà còn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi chính sách trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Trong bối cảnh mới, việc quán triệt và hiện thực hóa sâu sắc quan điểm này chính là điều kiện tiên quyết để củng cố niềm tin của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Lấy dân làm gốc, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất- đó không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là lời cam kết nhất quán, xuyên suốt của Đảng đối với nhân dân Việt Nam trên con đường bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và nhân văn.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ.vn: Toàn văn dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội
Thạc sĩ Trần Thị Mai Thu
Khoa NHà nước và pháp luật
Khoa NHà nước và pháp luật
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 453
[2] ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.27
[3] Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr39
[4] Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr39
[5] Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr16
[6] Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr42
[7] Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. tr20
Tin mới nhất:
- ❧ Từ bài học Đại đoàn kết mùa Thu năm 1945 đến khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới -
- ❧ Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang dấu ấn đạt chuẩn mức 1 và định hướng chiến lược trong giai đoạn phát triển -
- ❧ Vai trò của pháp luật trong hệ thống công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội -
- ❧ Mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân* -
- ❧ Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã: Bước đi chiến lược của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang -