Nghiên cứu - Trao đổi
Khoa Xây dựng Đảng ứng dụng Công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giảng dạy và Nghiên cứu khoa học
Ngày Đăng: 16/3/2026 10:32 Lượt xem: 74
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 25/3/2025 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực, trong đó có giáo dục lý luận chính trị; phát triển hạ tầng số, nền tảng dữ liệu mở dùng chung, đổi mới mô hình đào tạo cán bộ gắn với chuyển đổi số toàn diện...”.
Lần đầu tiên, tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, khoa học, công nghệ cùng với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã được đặt lên ở vị trí “là yếu tố quyết định… là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc… là đột phá quan trọng hàng đầu”[1], với những mục tiêu quan trọng cùng các giải pháp rất quyết liệt. Trong đó, mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có “tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến”[2]. Về tầm nhìn đến năm 2045: “Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến”[3].
Thực hiện chủ trương của Đảng, tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015-2020 cũng khẳng định: Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ; các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội xây dựng trên cơ sở khoa học, xác định rõ giải pháp công nghệ phù hợp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, phát triển sản xuất kinh doanh; từng bước thực hiện cung cấp thông tin, các dịch vụ công trực tuyến; khuyến khích và tạo điều kiện thực hiện giao dịch điện tử.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 chủ trương: Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ trên các lĩnh vực, chú trọng ứng dụng công nghệ cao trong tạo giống, thâm canh, thu hoạch, bảo quản, chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp hỗ trợ. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong quản lý, phát triển sản xuất kinh doanh, cung cấp các dịch vụ công trực tuyến, thực hiện giao dịch điện tử trong hoạt động quản lý.
Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo trên, khoa Xây dựng Đảng thường xuyên quan tâm, chỉ đạo và tổ chức các buổi họp sinh hoạt chuyên môn tạo diễn đàn để giảng viên trao đổi dân chủ, đưa ra những ý tưởng, giải pháp trong tổ chức thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, công tác ứng dụng CNTT và chuyển đổi số thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Khoa xác định ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu bắt buộc nhằm nâng cao chất lượng giảng viên và học viên trong tình hình mới. Khoa đã nghiêm túc quán triệt, phổ biến các văn bản chỉ đạo của cấp trên; đưa nội dung về nâng cao năng lực số vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị hằng năm, bước đầu tạo sự chuyển biến về nhận thức trong giảng viên. Hiện nay khoa có 100% giảng viên xây dựng được bài giảng điện tử có tích hợp hình ảnh, video clip minh họa sinh động. Một số đảng viên đã bước đầu sử dụng các công cụ tương tác đơn giản như tạo mã QR Code để chia sẻ tài liệu, sử dụng các phần mềm như: Quizizz, Kahoot! để tăng tính tương tác trong lớp học; 100% đảng viên có kỹ năng tìm kiếm, khai thác thông tin trên Internet, truy cập các cổng thông tin điện tử của Đảng, Nhà nước và các thư viện số để phục vụ nghiên cứu. Phần lớn các giảng viên đã bắt đầu sự dụng các phần mềm công cụ AI phục vụ cho các hoạt động soạn bài và nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Kỹ năng, phương pháp sư phạm của giảng viên không đồng đều, còn lúng túng khi gặp sự cố kỹ thuật, chưa làm chủ được các phần mềm chuyên dụng trong nghiên cứu giảng dạy; chưa có các các bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế có uy tín, tham gia các hội thảo trực tuyến quốc tế. Hạ tầng công nghệ (đường truyền internet, hệ thống máy tính, phòng học) đôi khi chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số giảng viên còn mang nặng tư duy lối mòn, có rào cản tâm lý ngại học hỏi, ngại thay đổi. Chưa biết cách sắp xếp và dành thời gian cho quá trình học về chuyển đổi số. Khoa chuyên môm đôi khi chưa quyết liệt, thiếu các giải pháp đột phá; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên.
Lần đầu tiên, tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, khoa học, công nghệ cùng với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã được đặt lên ở vị trí “là yếu tố quyết định… là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc… là đột phá quan trọng hàng đầu”[1], với những mục tiêu quan trọng cùng các giải pháp rất quyết liệt. Trong đó, mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có “tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến”[2]. Về tầm nhìn đến năm 2045: “Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến”[3].
Thực hiện chủ trương của Đảng, tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015-2020 cũng khẳng định: Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ; các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội xây dựng trên cơ sở khoa học, xác định rõ giải pháp công nghệ phù hợp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, phát triển sản xuất kinh doanh; từng bước thực hiện cung cấp thông tin, các dịch vụ công trực tuyến; khuyến khích và tạo điều kiện thực hiện giao dịch điện tử.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 chủ trương: Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ trên các lĩnh vực, chú trọng ứng dụng công nghệ cao trong tạo giống, thâm canh, thu hoạch, bảo quản, chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp hỗ trợ. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong quản lý, phát triển sản xuất kinh doanh, cung cấp các dịch vụ công trực tuyến, thực hiện giao dịch điện tử trong hoạt động quản lý.
Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo trên, khoa Xây dựng Đảng thường xuyên quan tâm, chỉ đạo và tổ chức các buổi họp sinh hoạt chuyên môn tạo diễn đàn để giảng viên trao đổi dân chủ, đưa ra những ý tưởng, giải pháp trong tổ chức thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, công tác ứng dụng CNTT và chuyển đổi số thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Khoa xác định ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu bắt buộc nhằm nâng cao chất lượng giảng viên và học viên trong tình hình mới. Khoa đã nghiêm túc quán triệt, phổ biến các văn bản chỉ đạo của cấp trên; đưa nội dung về nâng cao năng lực số vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị hằng năm, bước đầu tạo sự chuyển biến về nhận thức trong giảng viên. Hiện nay khoa có 100% giảng viên xây dựng được bài giảng điện tử có tích hợp hình ảnh, video clip minh họa sinh động. Một số đảng viên đã bước đầu sử dụng các công cụ tương tác đơn giản như tạo mã QR Code để chia sẻ tài liệu, sử dụng các phần mềm như: Quizizz, Kahoot! để tăng tính tương tác trong lớp học; 100% đảng viên có kỹ năng tìm kiếm, khai thác thông tin trên Internet, truy cập các cổng thông tin điện tử của Đảng, Nhà nước và các thư viện số để phục vụ nghiên cứu. Phần lớn các giảng viên đã bắt đầu sự dụng các phần mềm công cụ AI phục vụ cho các hoạt động soạn bài và nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Kỹ năng, phương pháp sư phạm của giảng viên không đồng đều, còn lúng túng khi gặp sự cố kỹ thuật, chưa làm chủ được các phần mềm chuyên dụng trong nghiên cứu giảng dạy; chưa có các các bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế có uy tín, tham gia các hội thảo trực tuyến quốc tế. Hạ tầng công nghệ (đường truyền internet, hệ thống máy tính, phòng học) đôi khi chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số giảng viên còn mang nặng tư duy lối mòn, có rào cản tâm lý ngại học hỏi, ngại thay đổi. Chưa biết cách sắp xếp và dành thời gian cho quá trình học về chuyển đổi số. Khoa chuyên môm đôi khi chưa quyết liệt, thiếu các giải pháp đột phá; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên.
Để tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ, thời gian tới Khoa Xây dựng Đảng cần tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức và năng lực chuyển đổi số cho đội ngũ giảng viên
Chuyển đổi số trong giảng dạy không chỉ là việc thay đổi công cụ kỹ thuật, mà là một quá trình chuyển đổi toàn diện về tư duy, phương pháp và cách thức tổ chức bài giảng. Vì vậy, giải pháp đầu tiên mang tính nền tảng là cần nâng cao nhận thức và năng lực số cho giảng viên. Khoa Xây dựng Đảng cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy – bao gồm sử dụng các phần mềm trình chiếu nâng cao, thiết kế bài giảng điện tử. Bên cạnh đó, cần khuyến khích tinh thần học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các giảng viên trong khoa thông qua sinh hoạt chuyên môn, nhóm thảo luận về chuyển đổi số. Việc hình thành “nhóm hỗ trợ kỹ thuật” trong khoa sẽ giúp những giảng viên còn hạn chế về công nghệ có thể từng bước làm chủ công cụ, tự tin đổi mới phương pháp giảng dạy.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua ứng dụng công nghệ
Để tăng tính hấp dẫn, hiệu quả và khả năng tiếp thu của học viên, việc đổi mới phương pháp giảng dạy trên nền tảng công nghệ cần được ưu tiên. Giảng viên nên kết hợp sử dụng các phần mềm tương tác như Kahoot, Quizizz,… để kiểm tra nhanh, tạo hứng thú học tập và tăng cường sự tham gia của học viên trong lớp. Ngoài ra, việc đưa vào các video kết hợp sử dụng hình ảnh, bảng biểu minh họa sẽ giúp bài giảng sinh động, trực quan, dễ hiểu hơn. Đặc biệt, nên tích cực lồng ghép nội dung về chuyển đổi số trong chính các chuyên đề giảng dạy nhằm tăng tính thời sự và định hướng nhận thức cho học viên.
Thứ ba, đẩy mạnh xây dựng kho tư liệu tham khảo điện tử phục vụ giảng dạy
Hiện nay, một trong những điểm nghẽn trong giảng dạy ở nhiều khoa lý luận là sự thiếu hụt hệ thống học liệu số hóa, thiếu kết nối và chia sẻ dữ liệu nội bộ. Do đó, Khoa Xây dựng Đảng cần chủ động xây dựng kho học liệu điện tử dùng chung bao gồm: giáo trình, tài liệu tham khảo, bài giảng mẫu, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, tình huống thực tiễn... Mỗi giảng viên nên xây dựng bộ hồ sơ bài giảng điện tử theo chuyên đề mình phụ trách, định kỳ cập nhật, bổ sung và chia sẻ trong nội bộ khoa hoặc toàn trường. Ngoài ra, khoa cũng nên phối hợp với thư viện nhà trường trong việc xây dựng kho tài liệu tham khảo điện tử, tư liệu địa phương phục vụ giảng dạy.
Thứ năm, tăng cường kết nối học viên và xây dựng môi trường học tập linh hoạt
Một trong những lợi thế của công nghệ là khả năng kết nối và mở rộng không gian học tập vượt ra ngoài lớp học truyền thống. Giảng viên cần tăng cường kết nối với học viên qua hệ thống zalo và mạng xã hội khác đề trao đổi tài liệu, hỗ trợ giải đáp câu hỏi sau giờ học. Thông qua quá trình giảng dạy, giảng viên tổ chức các buổi thảo luận tạo diễn đàn nhằm nâng cao năng lực lý luận và tư duy phản biện cho học viên, nhất là trong các vấn đề mới, nhạy cảm về xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, dân vận trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức và năng lực chuyển đổi số cho đội ngũ giảng viên
Chuyển đổi số trong giảng dạy không chỉ là việc thay đổi công cụ kỹ thuật, mà là một quá trình chuyển đổi toàn diện về tư duy, phương pháp và cách thức tổ chức bài giảng. Vì vậy, giải pháp đầu tiên mang tính nền tảng là cần nâng cao nhận thức và năng lực số cho giảng viên. Khoa Xây dựng Đảng cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy – bao gồm sử dụng các phần mềm trình chiếu nâng cao, thiết kế bài giảng điện tử. Bên cạnh đó, cần khuyến khích tinh thần học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các giảng viên trong khoa thông qua sinh hoạt chuyên môn, nhóm thảo luận về chuyển đổi số. Việc hình thành “nhóm hỗ trợ kỹ thuật” trong khoa sẽ giúp những giảng viên còn hạn chế về công nghệ có thể từng bước làm chủ công cụ, tự tin đổi mới phương pháp giảng dạy.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua ứng dụng công nghệ
Để tăng tính hấp dẫn, hiệu quả và khả năng tiếp thu của học viên, việc đổi mới phương pháp giảng dạy trên nền tảng công nghệ cần được ưu tiên. Giảng viên nên kết hợp sử dụng các phần mềm tương tác như Kahoot, Quizizz,… để kiểm tra nhanh, tạo hứng thú học tập và tăng cường sự tham gia của học viên trong lớp. Ngoài ra, việc đưa vào các video kết hợp sử dụng hình ảnh, bảng biểu minh họa sẽ giúp bài giảng sinh động, trực quan, dễ hiểu hơn. Đặc biệt, nên tích cực lồng ghép nội dung về chuyển đổi số trong chính các chuyên đề giảng dạy nhằm tăng tính thời sự và định hướng nhận thức cho học viên.
Thứ ba, đẩy mạnh xây dựng kho tư liệu tham khảo điện tử phục vụ giảng dạy
Hiện nay, một trong những điểm nghẽn trong giảng dạy ở nhiều khoa lý luận là sự thiếu hụt hệ thống học liệu số hóa, thiếu kết nối và chia sẻ dữ liệu nội bộ. Do đó, Khoa Xây dựng Đảng cần chủ động xây dựng kho học liệu điện tử dùng chung bao gồm: giáo trình, tài liệu tham khảo, bài giảng mẫu, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, tình huống thực tiễn... Mỗi giảng viên nên xây dựng bộ hồ sơ bài giảng điện tử theo chuyên đề mình phụ trách, định kỳ cập nhật, bổ sung và chia sẻ trong nội bộ khoa hoặc toàn trường. Ngoài ra, khoa cũng nên phối hợp với thư viện nhà trường trong việc xây dựng kho tài liệu tham khảo điện tử, tư liệu địa phương phục vụ giảng dạy.
Thứ năm, tăng cường kết nối học viên và xây dựng môi trường học tập linh hoạt
Một trong những lợi thế của công nghệ là khả năng kết nối và mở rộng không gian học tập vượt ra ngoài lớp học truyền thống. Giảng viên cần tăng cường kết nối với học viên qua hệ thống zalo và mạng xã hội khác đề trao đổi tài liệu, hỗ trợ giải đáp câu hỏi sau giờ học. Thông qua quá trình giảng dạy, giảng viên tổ chức các buổi thảo luận tạo diễn đàn nhằm nâng cao năng lực lý luận và tư duy phản biện cho học viên, nhất là trong các vấn đề mới, nhạy cảm về xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, dân vận trong kỷ nguyên mới.
Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà
Khoa Xây dựng Đảng
Khoa Xây dựng Đảng
[1] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162
[2] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162
[3] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162
Tin mới nhất:
- ❧ Cải cách về thể chế - Động lực phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang -
- ❧ Phát triển mạnh mẽ văn hoá và con người Việt Nam - bước tiến trong nhận thức và hành động của Đảng tại Văn kiện Đại hội XIV -
- ❧ Quê tôi - Hành trình từ đá nở hoa đến những lời thề bất tử -
- ❧ Đồng chí Lê Văn Lương – Chiến sỹ cộng sản kiên trung, người đặt nền móng quan trọng cho công tác cán bộ của Đảng -
- ❧ Dấu ấn du lịch Tuyên Quang năm 2025: Khơi dậy tiềm năng, gặt hái những kết quả tích cực -