Nghiên cứu - Trao đổi
Kiên định con đường đã chọn - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam
Ngày Đăng: 10/6/2026 7:54 Lượt xem: 54
Trải qua gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt dân tộc vượt qua nhiều bước ngoặt lịch sử, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong mỗi giai đoạn phát triển, dù bối cảnh trong nước và thế giới có nhiều thay đổi, Việt Nam vẫn nhất quán mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đã chứng minh, chính sự kiên định về mục tiêu chiến lược, cùng với khả năng đổi mới sáng tạo trong tư duy và hành động, đã tạo nên bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, giúp đất nước giữ vững ổn định, không ngừng phát triển và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Lịch sử cho thấy, con đường mà Việt Nam đã lựa chọn không phải là kết quả của sự ngẫu nhiên hay sự áp đặt từ bên ngoài, mà là sự kết tinh của lịch sử, của nhận thức lý luận và của thực tiễn đấu tranh cách mạng. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tộc giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là khát vọng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng, từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến trường kỳ đến công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và nay là bước vào kỷ nguyên mới. Mỗi giai đoạn đều là phép thử đối với bản lĩnh chính trị và sự kiên định về con đường cách mạng mà Đảng và toàn Nhân dân ta đã lựa chọn. Tất nhiên, sự kiên định ấy không đồng nghĩa với bảo thủ, bất biến, mà được thể hiện ở năng lực không ngừng bổ sung, phát triển tư duy lý luận, kịp thời điều chỉnh phương thức và bước đi cho phù hợp với thực tiễn, đặc biệt, trong những điều kiện lịch sử luôn vận động và biến đổi.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, với tình hình thế giới và khu vực diễn biễn ngày càng phức tạp, khó dự báo, nhiều trở ngại, thách thức. Đặc biệt, sự nổi lên của trào lưu dân tuý và chủ nghĩa bảo hộ kết hợp với việc đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc cực đoan; các nước lớn ngày càng gia tăng cạnh tranh chiến lược, chạy đua vũ trang công nghệ cao và liên kết tạo ảnh hưởng; cục diện “đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc” định hình rõ nét hơn. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” [1] … Đây là quan điểm cơ bản có ý nghĩa xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hai mặt của một vấn đề thống nhất và biện chứng với nhau. Kiên định phải trên cơ sở sáng tạo, còn sáng tạo phải trên cơ sở kiên định. Nếu “kiên định” mà không sáng tạo sẽ rơi vào chủ nghĩa bảo thủ, giáo điều, trì trệ . Ngược lại “sáng tạo” mà không kiên định sẽ rơi vào chủ nghĩa cơ hội, xét lại, cực đoan, siêu hình và chệch hướng. Chính trên nền tảng kiên định đó, Đảng ta từng bước nhận thức ngày càng sâu sắc và giải quyết sáng tạo mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo đảm giữ vững mục tiêu chiến lược, đồng thời linh hoạt về sách lược.
Có thể nói, tinh thần “kiên định” chính là bản lĩnh chính trị, là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử và những bài học từ công cuộc đổi mới, là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường tự lực, tự chủ, tự cường, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, đặt ấm no và hạnh phúc của Nhân dân ở vị trí trung tâm. Đây chính là “điểm tựa” giúp quốc gia không chệch hướng, không dao động trước bất kỳ áp lực và sự tác động xấu từ bên ngoài.
Bản lĩnh chính trị và sự kiên định về con đường đã chọn không chỉ dừng ở quan điểm, tư tưởng mà được cụ thể hóa thành hệ thống pháp luật tạo nên một trật tự pháp lý vững chắc để bảo vệ con đường mà toàn Đảng và toàn dân ta đã lựa chọn.
Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc Việt Nam, đã thể hiện tầm nhìn vượt thời đại: Quyền lực thuộc về Nhân dân, Nhà nước phục vụ Nhân dân và độc lập dân tộc là những nguyên tắc không thể thỏa hiệp. Từ đó, một mạch phát triển liên tục được duy trì, không đứt gãy, không dao động qua các bản Hiến pháp 1959; 1980; 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cho đến Hiến pháp 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025). Chính sự liên tục này tạo ra một “trục ổn định hiến định” - yếu tố giúp Việt Nam không bị cuốn theo những dao động ngắn hạn của thế giới.
Từ nền tảng chính trị - pháp lý đó, Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Đây không phải là lựa chọn tình thế, mà là sự kéo dài logic của nền tảng chính trị ra không gian quốc tế. Trong khi nhiều quốc gia bị cuốn vào các liên minh đối đầu, Việt Nam lựa chọn một con đường khác, đó là luôn mở rộng hợp tác với tất cả các quốc gia trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi nhưng đồng thời không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.[2] Đó không phải là trung lập thụ động, mà là chủ động định vị quốc gia trong một môi trường cạnh tranh phức tạp. Khi tham gia sâu vào các quan hệ quốc tế, đóng góp vào các vấn đề toàn cầu, Việt Nam không hòa tan mà khẳng định mình với tư cách một quốc gia có nguyên tắc, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam 96 năm qua chính là thành quả từ việc hiện thực hóa lý luận về con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, được cụ thể hóa phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ một nước thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, vững mạnh; kinh tế phát triển vượt bậc, thoát khỏi vị trí một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển thấp trở thành một nước phát triển trung bình. Đặc biệt, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội vượt bậc nền kinh tế Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, đã vững vàng trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD năm 1975 lên gần 5.000 USD năm 2024[3].
Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 58% vào đầu thập niên 1990 xuống còn 1,1% vào năm 2025. Việt Nam được Liên Hợp Quốc đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất trong việc xóa đói giảm nghèo. Chất lượng sống của người dân được cải thiện rõ rệt: tỷ lệ tiếp cận điện, nước sạch, dịch vụ y tế và giáo dục tăng mạnh; chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục được cải thiện, xếp vào nhóm trung bình cao của thế giới. Tuổi thọ trung bình tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên hơn 74 tuổi năm 2025, phản ánh sự tiến bộ vượt bậc trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng[4] Chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam được đo lường theo tiêu chí của Liên hợp quốc cho thấy, chỉ số này có xu hướng tăng từ 5,061 điểm, xếp vị trí thứ 94/149 quốc gia năm 2016, lên 5,411 điểm, xếp vị trí thứ 79 năm 2021; 5,485 điểm, xếp vị trí thứ 77 năm 2022; vị trí thứ 65 năm 2023; vị trí thứ 54 năm 2024 và vị trí thứ 46 năm 2025. So với năm 2016, chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam tăng 48 bậc[5]. Đây là một biểu hiện tính nhân văn cao đẹp của nước ta.
Với chủ trương đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn bè tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã tiến những bước rất nhanh, rất vững chắc trên con đường ngoại giao, đặc biệt quá trình hội nhập quốc tế. Khởi đầu là quá trình tham gia vào các cơ chế về thương mại tự do như trong khuôn khổ ASEAN, sau đó gia nhập WTO và ký các Hiệp định thương mại tự do với các nước, các nhóm khu vực. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, Việt Nam dần tham gia vào các cơ chế về chính trị, an ninh quốc tế. Tính đến tháng 1/2026 Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đố có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20).[6]
Những thành tựu xuyên suốt quá trình phát triển đất nước nêu trên không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là minh chứng thực tiễn thuyết phục cho tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của con đường mà Việt Nam đã lựa chọn. Lịch sử 96 năm của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là 40 năm đổi mới, đã cung cấp một hệ thống bằng chứng đủ mạnh để khẳng định chính sự kiên định về mục tiêu, linh hoạt trong phương pháp và sáng tạo trong tư duy phát triển đã tạo nên một Việt Nam độc lập trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, ngoại giao … và các lĩnh vực khác. Đây là sức mạnh nội sinh để Việt Nam đứng vững trong tình hình thế giới nhiều biến động, đồng thời là bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế.
Lịch sử cho thấy, con đường mà Việt Nam đã lựa chọn không phải là kết quả của sự ngẫu nhiên hay sự áp đặt từ bên ngoài, mà là sự kết tinh của lịch sử, của nhận thức lý luận và của thực tiễn đấu tranh cách mạng. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tộc giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là khát vọng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng, từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến trường kỳ đến công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và nay là bước vào kỷ nguyên mới. Mỗi giai đoạn đều là phép thử đối với bản lĩnh chính trị và sự kiên định về con đường cách mạng mà Đảng và toàn Nhân dân ta đã lựa chọn. Tất nhiên, sự kiên định ấy không đồng nghĩa với bảo thủ, bất biến, mà được thể hiện ở năng lực không ngừng bổ sung, phát triển tư duy lý luận, kịp thời điều chỉnh phương thức và bước đi cho phù hợp với thực tiễn, đặc biệt, trong những điều kiện lịch sử luôn vận động và biến đổi.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, với tình hình thế giới và khu vực diễn biễn ngày càng phức tạp, khó dự báo, nhiều trở ngại, thách thức. Đặc biệt, sự nổi lên của trào lưu dân tuý và chủ nghĩa bảo hộ kết hợp với việc đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc cực đoan; các nước lớn ngày càng gia tăng cạnh tranh chiến lược, chạy đua vũ trang công nghệ cao và liên kết tạo ảnh hưởng; cục diện “đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc” định hình rõ nét hơn. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” [1] … Đây là quan điểm cơ bản có ý nghĩa xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hai mặt của một vấn đề thống nhất và biện chứng với nhau. Kiên định phải trên cơ sở sáng tạo, còn sáng tạo phải trên cơ sở kiên định. Nếu “kiên định” mà không sáng tạo sẽ rơi vào chủ nghĩa bảo thủ, giáo điều, trì trệ . Ngược lại “sáng tạo” mà không kiên định sẽ rơi vào chủ nghĩa cơ hội, xét lại, cực đoan, siêu hình và chệch hướng. Chính trên nền tảng kiên định đó, Đảng ta từng bước nhận thức ngày càng sâu sắc và giải quyết sáng tạo mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo đảm giữ vững mục tiêu chiến lược, đồng thời linh hoạt về sách lược.
Có thể nói, tinh thần “kiên định” chính là bản lĩnh chính trị, là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử và những bài học từ công cuộc đổi mới, là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường tự lực, tự chủ, tự cường, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, đặt ấm no và hạnh phúc của Nhân dân ở vị trí trung tâm. Đây chính là “điểm tựa” giúp quốc gia không chệch hướng, không dao động trước bất kỳ áp lực và sự tác động xấu từ bên ngoài.
Bản lĩnh chính trị và sự kiên định về con đường đã chọn không chỉ dừng ở quan điểm, tư tưởng mà được cụ thể hóa thành hệ thống pháp luật tạo nên một trật tự pháp lý vững chắc để bảo vệ con đường mà toàn Đảng và toàn dân ta đã lựa chọn.
Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc Việt Nam, đã thể hiện tầm nhìn vượt thời đại: Quyền lực thuộc về Nhân dân, Nhà nước phục vụ Nhân dân và độc lập dân tộc là những nguyên tắc không thể thỏa hiệp. Từ đó, một mạch phát triển liên tục được duy trì, không đứt gãy, không dao động qua các bản Hiến pháp 1959; 1980; 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cho đến Hiến pháp 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025). Chính sự liên tục này tạo ra một “trục ổn định hiến định” - yếu tố giúp Việt Nam không bị cuốn theo những dao động ngắn hạn của thế giới.
Từ nền tảng chính trị - pháp lý đó, Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Đây không phải là lựa chọn tình thế, mà là sự kéo dài logic của nền tảng chính trị ra không gian quốc tế. Trong khi nhiều quốc gia bị cuốn vào các liên minh đối đầu, Việt Nam lựa chọn một con đường khác, đó là luôn mở rộng hợp tác với tất cả các quốc gia trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi nhưng đồng thời không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.[2] Đó không phải là trung lập thụ động, mà là chủ động định vị quốc gia trong một môi trường cạnh tranh phức tạp. Khi tham gia sâu vào các quan hệ quốc tế, đóng góp vào các vấn đề toàn cầu, Việt Nam không hòa tan mà khẳng định mình với tư cách một quốc gia có nguyên tắc, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam 96 năm qua chính là thành quả từ việc hiện thực hóa lý luận về con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, được cụ thể hóa phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ một nước thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, vững mạnh; kinh tế phát triển vượt bậc, thoát khỏi vị trí một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển thấp trở thành một nước phát triển trung bình. Đặc biệt, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội vượt bậc nền kinh tế Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, đã vững vàng trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD năm 1975 lên gần 5.000 USD năm 2024[3].
Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 58% vào đầu thập niên 1990 xuống còn 1,1% vào năm 2025. Việt Nam được Liên Hợp Quốc đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất trong việc xóa đói giảm nghèo. Chất lượng sống của người dân được cải thiện rõ rệt: tỷ lệ tiếp cận điện, nước sạch, dịch vụ y tế và giáo dục tăng mạnh; chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục được cải thiện, xếp vào nhóm trung bình cao của thế giới. Tuổi thọ trung bình tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên hơn 74 tuổi năm 2025, phản ánh sự tiến bộ vượt bậc trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng[4] Chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam được đo lường theo tiêu chí của Liên hợp quốc cho thấy, chỉ số này có xu hướng tăng từ 5,061 điểm, xếp vị trí thứ 94/149 quốc gia năm 2016, lên 5,411 điểm, xếp vị trí thứ 79 năm 2021; 5,485 điểm, xếp vị trí thứ 77 năm 2022; vị trí thứ 65 năm 2023; vị trí thứ 54 năm 2024 và vị trí thứ 46 năm 2025. So với năm 2016, chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam tăng 48 bậc[5]. Đây là một biểu hiện tính nhân văn cao đẹp của nước ta.
Với chủ trương đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn bè tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã tiến những bước rất nhanh, rất vững chắc trên con đường ngoại giao, đặc biệt quá trình hội nhập quốc tế. Khởi đầu là quá trình tham gia vào các cơ chế về thương mại tự do như trong khuôn khổ ASEAN, sau đó gia nhập WTO và ký các Hiệp định thương mại tự do với các nước, các nhóm khu vực. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, Việt Nam dần tham gia vào các cơ chế về chính trị, an ninh quốc tế. Tính đến tháng 1/2026 Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đố có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20).[6]
Những thành tựu xuyên suốt quá trình phát triển đất nước nêu trên không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là minh chứng thực tiễn thuyết phục cho tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của con đường mà Việt Nam đã lựa chọn. Lịch sử 96 năm của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là 40 năm đổi mới, đã cung cấp một hệ thống bằng chứng đủ mạnh để khẳng định chính sự kiên định về mục tiêu, linh hoạt trong phương pháp và sáng tạo trong tư duy phát triển đã tạo nên một Việt Nam độc lập trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, ngoại giao … và các lĩnh vực khác. Đây là sức mạnh nội sinh để Việt Nam đứng vững trong tình hình thế giới nhiều biến động, đồng thời là bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế.
Thạc sĩ Vi Thị Thu Hiền
Khoa Nhà nước và Pháp luật
Khoa Nhà nước và Pháp luật
[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t2, tr. 259
[2] https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/viet-nam-khong-tham-gia-lien-minh-quan-su-la-chinh-sach-quoc-phong-dung-dan
[3] https://www.vietnamplus.vn/kinh-te-viet-nam-mot-trong-32-nen-kinh-te-lon-nhat-the-gioi-post1035945.vnp
[4] GS.TS Vũ Văn Hiền (2026), 40 năm Đổi mới: Thành tựu, bài học và khát vọng phát triển, https://vov.vn/chinh-tri/40-nam-doi-moi-thanh-tuu-bai-hoc-va-khat-vong-phat-trien-post1261607.vov
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t2, tr. 114
[6] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t2, tr. 143;144
Các tin liên quan:
- ❧ Mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân* -
- ❧ Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã: Bước đi chiến lược của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang -
- ❧ Trí tuệ nhân tạo (AI) và những thách thức đối với hoạt động quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay -
- ❧ Sắp xếp thôn, tổ dân phố ở Tuyên Quang: Dân chủ, đồng thuận, phù hợp thực tiễn miền núi -
- ❧ Dấu ấn đồng chí Hồ Tùng Mậu trong tiến trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam -