Nghiên cứu - Trao đổi
Nâng cao năng lực số cho người cao tuổi – Yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước trong xã hội số
Ngày Đăng: 22/10/2026 8:45 Lượt xem: 24
Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản lý, cung ứng dịch vụ công và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội. Trong quá trình đó, người cao tuổi vừa là nhóm thụ hưởng ngày càng nhiều các thành quả của chuyển đổi số vừa có thể trở thành chủ thể tích cực tham gia xây dựng xã hội số. Tuy nhiên, sự khác biệt về tuổi tác, điều kiện tiếp cận công nghệ, trình độ kỹ năng, khả năng thích ứng và nguy cơ mất an toàn trên môi trường mạng đặt ra yêu cầu phải quan tâm nâng cao năng lực số cho người cao tuổi. Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh. Trong bối cảnh đó, nâng cao năng lực số cho người cao tuổi cần được nhìn nhận như một nội dung của quản lý nhà nước, gắn với xây dựng xã hội số, bảo đảm tiếp cận bình đẳng các dịch vụ số, đồng thời phát huy kinh nghiệm và nguồn lực của người cao tuổi.
1. Già hóa dân số và chuyển đổi số, hai xu hướng lớn đặt ra yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước
Việt Nam đang đứng trước hai quá trình diễn ra đồng thời và có tác động ngày càng sâu rộng đến đời sống kinh tế - xã hội như chuyển đổi số và già hóa dân số. Nếu chuyển đổi số làm thay đổi phương thức con người tiếp cận thông tin, thực hiện giao dịch, sử dụng dịch vụ và tham gia các hoạt động xã hội thì già hóa dân số làm thay đổi cơ cấu nhu cầu của xã hội, đặt ra những yêu cầu mới về an sinh, chăm sóc sức khỏe, việc làm, giáo dục và tổ chức đời sống cộng đồng.
Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, Việt Nam có 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên; chỉ số già hóa đạt 60,2%, tăng 11,4 điểm phần trăm so với năm 2019. Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người. Đây không còn là vấn đề chỉ liên quan đến chính sách chăm sóc người cao tuổi theo nghĩa truyền thống, mà đã trở thành một vấn đề phát triển cần được xem xét trong tổng thể quá trình tổ chức và quản trị xã hội hiện nay.
Trong khi đó, chuyển đổi số đang ngày càng đi vào những hoạt động rất cụ thể của đời sống. Người dân thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, sử dụng căn cước và các nền tảng số để tiếp cận dịch vụ, thanh toán không dùng tiền mặt, đặt lịch khám bệnh, tiếp nhận thông tin qua các nền tảng trực tuyến, mua bán hàng hóa trên môi trường số. Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045 được phê duyệt tại Quyết định số 1266/QĐ-TTg đã xác định: “Chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội; được triển khai trên tất cả các ngành, lĩnh vực, địa bàn và mọi mặt đời sống và hoạt động của người dân, doanh nghiệp. Chuyển đổi số phải được thực hiện toàn diện, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau; góp phần tạo cơ hội phát triển bình đẳng, nâng cao năng lực tiếp cận và thụ hưởng các thành tựu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số của mọi người dân, doanh nghiệp.” [2].
Điều đó dẫn đến một thay đổi quan trọng trong cách nhìn về năng lực số của người dân. Khi ngày càng nhiều dịch vụ được cung cấp trên môi trường số, năng lực sử dụng công nghệ không còn đơn thuần là một kỹ năng cá nhân mà trở thành một điều kiện để mỗi người có thể tiếp cận đầy đủ các cơ hội phát triển và các dịch vụ thiết yếu của xã hội.
Đối với người cao tuổi, yêu cầu này càng rõ nét. Một người có thể vẫn có đầy đủ quyền của một công dân nhưng nếu không biết sử dụng điện thoại thông minh, không biết xác thực thông tin, không biết thực hiện một thủ tục trực tuyến hoặc không nhận diện được nguy cơ lừa đảo trên mạng thì khả năng tiếp cận các dịch vụ và cơ hội trong xã hội số sẽ bị hạn chế. Do đó, câu chuyện đặt ra không phải là “người cao tuổi có theo kịp công nghệ hay không” mà sâu xa hơn là Nhà nước cần làm gì để quá trình chuyển đổi số diễn ra theo hướng bao trùm, để tuổi tác không trở thành một rào cản đối với việc tiếp cận thành quả của phát triển?
2. Nâng cao năng lực số cho người cao tuổi, từ nhu cầu cá nhân trở thành yêu cầu của quản lý nhà nước
Năng lực số của người cao tuổi có thể hiểu là khả năng sử dụng các thiết bị, nền tảng và dịch vụ số một cách phù hợp, an toàn và có hiệu quả trong đời sống hằng ngày. Đó không chỉ là biết sử dụng điện thoại thông minh hay các ứng dụng mạng xã hội mà bao gồm nhiều kỹ năng thiết yếu như tìm kiếm và đánh giá thông tin; sử dụng dịch vụ công trực tuyến; giao dịch, thanh toán trên môi trường số; tiếp cận dịch vụ y tế, an sinh; bảo vệ dữ liệu cá nhân; nhận diện thông tin giả và các hình thức lừa đảo trực tuyến…
Từ góc độ quản lý nhà nước, đây là vấn đề cần được tiếp cận trên ít nhất ba phương diện: Thứ nhất, bảo đảm khả năng tiếp cận các dịch vụ công và dịch vụ xã hội trong môi trường số. Khi phương thức cung ứng dịch vụ thay đổi, Nhà nước phải tính đến sự khác biệt về khả năng tiếp cận của các nhóm dân cư. Dịch vụ công trực tuyến càng thuận tiện thì càng cần thiết kế theo hướng dễ sử dụng, dễ hiểu, có khả năng hỗ trợ những người ít có kỹ năng số. Thứ hai, bảo đảm an toàn cho người cao tuổi trong môi trường số. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng bởi người cao tuổi có thể trở thành nhóm dễ bị tổn thương trước các thủ đoạn lừa đảo trực tuyến nếu thiếu kiến thức và kỹ năng nhận diện. Thứ ba, phát huy vai trò của người cao tuổi trong xã hội số. Người cao tuổi không chỉ là đối tượng cần được hỗ trợ. Nhiều người trong độ tuổi này có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, uy tín xã hội và hiểu biết sâu sắc về cộng đồng. Nếu được trang bị năng lực số phù hợp, họ có thể tiếp tục tham gia lao động, sản xuất, kinh doanh, hoạt động xã hội, truyền đạt kinh nghiệm và hỗ trợ thế hệ khác.
Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với chính sách mới của Nhà nước. Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm” đặt mục tiêu giai đoạn 2025–2030 phấn đấu 90% cán bộ, hội viên, người cao tuổi được tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số và 50% người cao tuổi thành thạo các kỹ năng số cơ bản, trong đó có sử dụng dịch vụ công trực tuyến, mua sắm, thanh toán trực tuyến và tự bảo vệ mình trên không gian mạng. Đến năm 2035, mục tiêu này được nâng lên 70% người cao tuổi thành thạo kỹ năng số cơ bản[3].
Như vậy, nâng cao năng lực số cho người cao tuổi đã được đặt trong một chính sách có mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp cụ thể. Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để các mục tiêu đó được chuyển hóa thành năng lực thực tế của từng người dân.
3. Những vấn đề Nhà nước cần quan tâm giải quyết để nâng cao năng lực số của người cao tuổi
Một là, khoảng cách số giữa các nhóm người cao tuổi còn có thể khá lớn.
Không thể coi người cao tuổi là một nhóm đồng nhất. Khả năng tiếp cận công nghệ giữa người 60 tuổi và người trên 80 tuổi có thể rất khác nhau; giữa người ở đô thị và người ở nông thôn cũng có sự khác biệt; giữa người có trình độ học vấn cao và người ít có điều kiện học tập, tiếp cận công nghệ lại càng khác.
Vì vậy, nếu áp dụng một chương trình đào tạo giống nhau cho tất cả người cao tuổi thì hiệu quả khó đạt được. Có người chỉ cần hướng dẫn một lần đã có thể sử dụng ứng dụng; có người cần được cầm tay chỉ việc nhiều lần; cũng có người cần sự hỗ trợ thường xuyên của gia đình, cộng đồng hoặc cán bộ cơ sở.
Điều đó đòi hỏi quản lý nhà nước phải chuyển từ tư duy “phổ cập đồng loạt” sang phân loại nhu cầu và hỗ trợ theo nhóm đối tượng.
Hai là, đào tạo kỹ năng số xuất phát từ nhu cầu thực tế
Một hạn chế có thể gặp trong phổ cập kỹ năng số là quá chú trọng vào việc giới thiệu công nghệ nhưng chưa gắn chặt với nhu cầu của người sử dụng. Đối với người cao tuổi, phương pháp phù hợp không nhất thiết bắt đầu từ những khái niệm phức tạp về chuyển đổi số. Có thể bắt đầu bằng câu hỏi rất đơn giản: “Bác cần dùng điện thoại để làm gì?”. Từ đó, hướng dẫn từng kỹ năng tương ứng. Cách làm này vừa giảm tâm lý e ngại công nghệ, vừa tạo ra động lực học tập bởi người học thấy ngay lợi ích của kỹ năng được hướng dẫn.
Ba là, đảm bảo an toàn số
Trong môi trường số, biết sử dụng công nghệ nhưng không biết tự bảo vệ mình cũng chưa thể coi là có năng lực số đầy đủ. Người cao tuổi cần được hướng dẫn nhận diện các dấu hiệu bất thường như yêu cầu cung cấp mã OTP, đường link không rõ nguồn gốc, cuộc gọi giả danh cơ quan nhà nước... Đặc biệt, cần hình thành thói quen “không vội tin – không vội bấm – không vội chuyển tiền”. Đây là lĩnh vực mà chính quyền cơ sở có thể đóng vai trò rất thiết thực. Thay vì chỉ tuyên truyền chung về “an toàn thông tin” có thể đưa những tình huống cụ thể vào các buổi sinh hoạt của tổ dân phố, thôn, chi hội người cao tuổi; phát hành tài liệu ngắn gọn, chữ lớn, minh họa trực quan và thường xuyên cập nhật các phương thức lừa đảo mới.
4. Một số giải pháp để người cao tuổi tham gia vào hành trình chuyển đổi số
Để nâng cao năng lực số cho người cao tuổi thực chất và bền vững, cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu.
Một là, điều tra, phân loại nhu cầu và mức độ năng lực số của người cao tuổi. Không nên triển khai chính sách dựa trên giả định rằng tất cả người cao tuổi đều có nhu cầu và khả năng giống nhau. Cần xác định nhóm đã thành thạo, nhóm có thể tự học, nhóm cần hỗ trợ thường xuyên và nhóm đặc biệt khó tiếp cận.
Hai là, đưa phổ cập kỹ năng số trở thành một nội dung thường xuyên ở cơ sở. Thay vì tổ chức những đợt tập huấn ngắn rồi kết thúc, cần hình thành các điểm hỗ trợ số thường xuyên tại cộng đồng, phát huy vai trò của các tổ công nghệ số cộng đồng. Người cao tuổi có thể đến hỏi, thực hành và được hướng dẫn khi gặp khó khăn.
Ba là, xây dựng tài liệu hướng dẫn riêng cho người cao tuổi. Tài liệu cần ngắn gọn, chữ lớn, nhiều hình ảnh, ít thuật ngữ và tập trung vào các tình huống thực tế. Có thể xây dựng các “bài học số” chỉ kéo dài 10–15 phút, chẳng hạn: cách nhận biết tin nhắn lừa đảo; cách kiểm tra thông tin; cách sử dụng dịch vụ công; cách thanh toán an toàn.
Bốn là, coi an toàn số là kỹ năng bắt buộc. Mỗi chương trình nâng cao năng lực số cho người cao tuổi cần có nội dung về bảo vệ dữ liệu cá nhân, phòng chống lừa đảo, nhận diện thông tin giả và cách xử lý khi tài khoản có dấu hiệu bị xâm nhập.
Năm là, phát huy mô hình liên thế hệ trong phổ cập kỹ năng số. Có thể khuyến khích đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên hỗ trợ ông bà, cha mẹ và người cao tuổi trong cộng đồng. Đây không chỉ là hoạt động phổ cập kỹ năng mà còn góp phần tăng cường sự gắn kết giữa các thế hệ.
Sáu là, đánh giá chính sách bằng kết quả thực tế. Không chỉ thống kê bao nhiêu người được tuyên truyền, bao nhiêu lớp được tổ chức mà cần quan tâm những câu hỏi thực chất hơn: bao nhiêu người cao tuổi tự thực hiện được một dịch vụ công trực tuyến; bao nhiêu người biết thanh toán an toàn; bao nhiêu người nhận biết được một thủ đoạn lừa đảo; bao nhiêu người sử dụng công nghệ để phục vụ sản xuất, kinh doanh hoặc tham gia hoạt động xã hội.
Tóm lại, chuyển đổi số đang mở ra những phương thức mới để con người tiếp cận thông tin, dịch vụ và cơ hội phát triển. Tuy nhiên, thành công của chuyển đổi số không chỉ được đo bằng số lượng nền tảng được xây dựng, tỷ lệ dịch vụ được số hóa hay mức độ hiện đại của hạ tầng công nghệ. Thước đo quan trọng hơn là người dân có thực sự tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ những thành quả đó hay không. Trong một xã hội đang già hóa nhanh như Việt Nam, câu hỏi này càng có ý nghĩa đối với người cao tuổi, việc nâng cao năng lực số cho người cao tuổi cần được đặt trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi số và chính sách người cao tuổi. Vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước không phải là buộc tất cả người cao tuổi phải trở thành những “người dùng công nghệ” thành thạo, mà là tạo ra môi trường, chính sách, dịch vụ và mạng lưới hỗ trợ để mỗi người cao tuổi có thể sử dụng công nghệ ở mức cần thiết cho cuộc sống của mình một cách chủ động và an toàn. Xa hơn, cần chuyển từ quan niệm người cao tuổi là nhóm “cần được hỗ trợ trong chuyển đổi số” sang quan niệm người cao tuổi là một nguồn lực có thể tham gia vào chuyển đổi số. Khi kinh nghiệm của người cao tuổi được kết hợp với công nghệ của thời đại mới, chuyển đổi số không chỉ giúp giải quyết khoảng cách giữa các thế hệ mà còn mở rộng khả năng đóng góp của mỗi người cho cộng đồng và xã hội.
Việt Nam đang đứng trước hai quá trình diễn ra đồng thời và có tác động ngày càng sâu rộng đến đời sống kinh tế - xã hội như chuyển đổi số và già hóa dân số. Nếu chuyển đổi số làm thay đổi phương thức con người tiếp cận thông tin, thực hiện giao dịch, sử dụng dịch vụ và tham gia các hoạt động xã hội thì già hóa dân số làm thay đổi cơ cấu nhu cầu của xã hội, đặt ra những yêu cầu mới về an sinh, chăm sóc sức khỏe, việc làm, giáo dục và tổ chức đời sống cộng đồng.
Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, Việt Nam có 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên; chỉ số già hóa đạt 60,2%, tăng 11,4 điểm phần trăm so với năm 2019. Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người. Đây không còn là vấn đề chỉ liên quan đến chính sách chăm sóc người cao tuổi theo nghĩa truyền thống, mà đã trở thành một vấn đề phát triển cần được xem xét trong tổng thể quá trình tổ chức và quản trị xã hội hiện nay.
Trong khi đó, chuyển đổi số đang ngày càng đi vào những hoạt động rất cụ thể của đời sống. Người dân thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, sử dụng căn cước và các nền tảng số để tiếp cận dịch vụ, thanh toán không dùng tiền mặt, đặt lịch khám bệnh, tiếp nhận thông tin qua các nền tảng trực tuyến, mua bán hàng hóa trên môi trường số. Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045 được phê duyệt tại Quyết định số 1266/QĐ-TTg đã xác định: “Chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội; được triển khai trên tất cả các ngành, lĩnh vực, địa bàn và mọi mặt đời sống và hoạt động của người dân, doanh nghiệp. Chuyển đổi số phải được thực hiện toàn diện, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau; góp phần tạo cơ hội phát triển bình đẳng, nâng cao năng lực tiếp cận và thụ hưởng các thành tựu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số của mọi người dân, doanh nghiệp.” [2].
Điều đó dẫn đến một thay đổi quan trọng trong cách nhìn về năng lực số của người dân. Khi ngày càng nhiều dịch vụ được cung cấp trên môi trường số, năng lực sử dụng công nghệ không còn đơn thuần là một kỹ năng cá nhân mà trở thành một điều kiện để mỗi người có thể tiếp cận đầy đủ các cơ hội phát triển và các dịch vụ thiết yếu của xã hội.
Đối với người cao tuổi, yêu cầu này càng rõ nét. Một người có thể vẫn có đầy đủ quyền của một công dân nhưng nếu không biết sử dụng điện thoại thông minh, không biết xác thực thông tin, không biết thực hiện một thủ tục trực tuyến hoặc không nhận diện được nguy cơ lừa đảo trên mạng thì khả năng tiếp cận các dịch vụ và cơ hội trong xã hội số sẽ bị hạn chế. Do đó, câu chuyện đặt ra không phải là “người cao tuổi có theo kịp công nghệ hay không” mà sâu xa hơn là Nhà nước cần làm gì để quá trình chuyển đổi số diễn ra theo hướng bao trùm, để tuổi tác không trở thành một rào cản đối với việc tiếp cận thành quả của phát triển?
2. Nâng cao năng lực số cho người cao tuổi, từ nhu cầu cá nhân trở thành yêu cầu của quản lý nhà nước
Năng lực số của người cao tuổi có thể hiểu là khả năng sử dụng các thiết bị, nền tảng và dịch vụ số một cách phù hợp, an toàn và có hiệu quả trong đời sống hằng ngày. Đó không chỉ là biết sử dụng điện thoại thông minh hay các ứng dụng mạng xã hội mà bao gồm nhiều kỹ năng thiết yếu như tìm kiếm và đánh giá thông tin; sử dụng dịch vụ công trực tuyến; giao dịch, thanh toán trên môi trường số; tiếp cận dịch vụ y tế, an sinh; bảo vệ dữ liệu cá nhân; nhận diện thông tin giả và các hình thức lừa đảo trực tuyến…
Từ góc độ quản lý nhà nước, đây là vấn đề cần được tiếp cận trên ít nhất ba phương diện: Thứ nhất, bảo đảm khả năng tiếp cận các dịch vụ công và dịch vụ xã hội trong môi trường số. Khi phương thức cung ứng dịch vụ thay đổi, Nhà nước phải tính đến sự khác biệt về khả năng tiếp cận của các nhóm dân cư. Dịch vụ công trực tuyến càng thuận tiện thì càng cần thiết kế theo hướng dễ sử dụng, dễ hiểu, có khả năng hỗ trợ những người ít có kỹ năng số. Thứ hai, bảo đảm an toàn cho người cao tuổi trong môi trường số. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng bởi người cao tuổi có thể trở thành nhóm dễ bị tổn thương trước các thủ đoạn lừa đảo trực tuyến nếu thiếu kiến thức và kỹ năng nhận diện. Thứ ba, phát huy vai trò của người cao tuổi trong xã hội số. Người cao tuổi không chỉ là đối tượng cần được hỗ trợ. Nhiều người trong độ tuổi này có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, uy tín xã hội và hiểu biết sâu sắc về cộng đồng. Nếu được trang bị năng lực số phù hợp, họ có thể tiếp tục tham gia lao động, sản xuất, kinh doanh, hoạt động xã hội, truyền đạt kinh nghiệm và hỗ trợ thế hệ khác.
Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với chính sách mới của Nhà nước. Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm” đặt mục tiêu giai đoạn 2025–2030 phấn đấu 90% cán bộ, hội viên, người cao tuổi được tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số và 50% người cao tuổi thành thạo các kỹ năng số cơ bản, trong đó có sử dụng dịch vụ công trực tuyến, mua sắm, thanh toán trực tuyến và tự bảo vệ mình trên không gian mạng. Đến năm 2035, mục tiêu này được nâng lên 70% người cao tuổi thành thạo kỹ năng số cơ bản[3].
Như vậy, nâng cao năng lực số cho người cao tuổi đã được đặt trong một chính sách có mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp cụ thể. Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để các mục tiêu đó được chuyển hóa thành năng lực thực tế của từng người dân.
3. Những vấn đề Nhà nước cần quan tâm giải quyết để nâng cao năng lực số của người cao tuổi
Một là, khoảng cách số giữa các nhóm người cao tuổi còn có thể khá lớn.
Không thể coi người cao tuổi là một nhóm đồng nhất. Khả năng tiếp cận công nghệ giữa người 60 tuổi và người trên 80 tuổi có thể rất khác nhau; giữa người ở đô thị và người ở nông thôn cũng có sự khác biệt; giữa người có trình độ học vấn cao và người ít có điều kiện học tập, tiếp cận công nghệ lại càng khác.
Vì vậy, nếu áp dụng một chương trình đào tạo giống nhau cho tất cả người cao tuổi thì hiệu quả khó đạt được. Có người chỉ cần hướng dẫn một lần đã có thể sử dụng ứng dụng; có người cần được cầm tay chỉ việc nhiều lần; cũng có người cần sự hỗ trợ thường xuyên của gia đình, cộng đồng hoặc cán bộ cơ sở.
Điều đó đòi hỏi quản lý nhà nước phải chuyển từ tư duy “phổ cập đồng loạt” sang phân loại nhu cầu và hỗ trợ theo nhóm đối tượng.
Hai là, đào tạo kỹ năng số xuất phát từ nhu cầu thực tế
Một hạn chế có thể gặp trong phổ cập kỹ năng số là quá chú trọng vào việc giới thiệu công nghệ nhưng chưa gắn chặt với nhu cầu của người sử dụng. Đối với người cao tuổi, phương pháp phù hợp không nhất thiết bắt đầu từ những khái niệm phức tạp về chuyển đổi số. Có thể bắt đầu bằng câu hỏi rất đơn giản: “Bác cần dùng điện thoại để làm gì?”. Từ đó, hướng dẫn từng kỹ năng tương ứng. Cách làm này vừa giảm tâm lý e ngại công nghệ, vừa tạo ra động lực học tập bởi người học thấy ngay lợi ích của kỹ năng được hướng dẫn.
Ba là, đảm bảo an toàn số
Trong môi trường số, biết sử dụng công nghệ nhưng không biết tự bảo vệ mình cũng chưa thể coi là có năng lực số đầy đủ. Người cao tuổi cần được hướng dẫn nhận diện các dấu hiệu bất thường như yêu cầu cung cấp mã OTP, đường link không rõ nguồn gốc, cuộc gọi giả danh cơ quan nhà nước... Đặc biệt, cần hình thành thói quen “không vội tin – không vội bấm – không vội chuyển tiền”. Đây là lĩnh vực mà chính quyền cơ sở có thể đóng vai trò rất thiết thực. Thay vì chỉ tuyên truyền chung về “an toàn thông tin” có thể đưa những tình huống cụ thể vào các buổi sinh hoạt của tổ dân phố, thôn, chi hội người cao tuổi; phát hành tài liệu ngắn gọn, chữ lớn, minh họa trực quan và thường xuyên cập nhật các phương thức lừa đảo mới.
4. Một số giải pháp để người cao tuổi tham gia vào hành trình chuyển đổi số
Để nâng cao năng lực số cho người cao tuổi thực chất và bền vững, cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu.
Một là, điều tra, phân loại nhu cầu và mức độ năng lực số của người cao tuổi. Không nên triển khai chính sách dựa trên giả định rằng tất cả người cao tuổi đều có nhu cầu và khả năng giống nhau. Cần xác định nhóm đã thành thạo, nhóm có thể tự học, nhóm cần hỗ trợ thường xuyên và nhóm đặc biệt khó tiếp cận.
Hai là, đưa phổ cập kỹ năng số trở thành một nội dung thường xuyên ở cơ sở. Thay vì tổ chức những đợt tập huấn ngắn rồi kết thúc, cần hình thành các điểm hỗ trợ số thường xuyên tại cộng đồng, phát huy vai trò của các tổ công nghệ số cộng đồng. Người cao tuổi có thể đến hỏi, thực hành và được hướng dẫn khi gặp khó khăn.
Ba là, xây dựng tài liệu hướng dẫn riêng cho người cao tuổi. Tài liệu cần ngắn gọn, chữ lớn, nhiều hình ảnh, ít thuật ngữ và tập trung vào các tình huống thực tế. Có thể xây dựng các “bài học số” chỉ kéo dài 10–15 phút, chẳng hạn: cách nhận biết tin nhắn lừa đảo; cách kiểm tra thông tin; cách sử dụng dịch vụ công; cách thanh toán an toàn.
Bốn là, coi an toàn số là kỹ năng bắt buộc. Mỗi chương trình nâng cao năng lực số cho người cao tuổi cần có nội dung về bảo vệ dữ liệu cá nhân, phòng chống lừa đảo, nhận diện thông tin giả và cách xử lý khi tài khoản có dấu hiệu bị xâm nhập.
Năm là, phát huy mô hình liên thế hệ trong phổ cập kỹ năng số. Có thể khuyến khích đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên hỗ trợ ông bà, cha mẹ và người cao tuổi trong cộng đồng. Đây không chỉ là hoạt động phổ cập kỹ năng mà còn góp phần tăng cường sự gắn kết giữa các thế hệ.
Sáu là, đánh giá chính sách bằng kết quả thực tế. Không chỉ thống kê bao nhiêu người được tuyên truyền, bao nhiêu lớp được tổ chức mà cần quan tâm những câu hỏi thực chất hơn: bao nhiêu người cao tuổi tự thực hiện được một dịch vụ công trực tuyến; bao nhiêu người biết thanh toán an toàn; bao nhiêu người nhận biết được một thủ đoạn lừa đảo; bao nhiêu người sử dụng công nghệ để phục vụ sản xuất, kinh doanh hoặc tham gia hoạt động xã hội.
Tóm lại, chuyển đổi số đang mở ra những phương thức mới để con người tiếp cận thông tin, dịch vụ và cơ hội phát triển. Tuy nhiên, thành công của chuyển đổi số không chỉ được đo bằng số lượng nền tảng được xây dựng, tỷ lệ dịch vụ được số hóa hay mức độ hiện đại của hạ tầng công nghệ. Thước đo quan trọng hơn là người dân có thực sự tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ những thành quả đó hay không. Trong một xã hội đang già hóa nhanh như Việt Nam, câu hỏi này càng có ý nghĩa đối với người cao tuổi, việc nâng cao năng lực số cho người cao tuổi cần được đặt trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi số và chính sách người cao tuổi. Vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước không phải là buộc tất cả người cao tuổi phải trở thành những “người dùng công nghệ” thành thạo, mà là tạo ra môi trường, chính sách, dịch vụ và mạng lưới hỗ trợ để mỗi người cao tuổi có thể sử dụng công nghệ ở mức cần thiết cho cuộc sống của mình một cách chủ động và an toàn. Xa hơn, cần chuyển từ quan niệm người cao tuổi là nhóm “cần được hỗ trợ trong chuyển đổi số” sang quan niệm người cao tuổi là một nguồn lực có thể tham gia vào chuyển đổi số. Khi kinh nghiệm của người cao tuổi được kết hợp với công nghệ của thời đại mới, chuyển đổi số không chỉ giúp giải quyết khoảng cách giữa các thế hệ mà còn mở rộng khả năng đóng góp của mỗi người cho cộng đồng và xã hội.
ThS. Phạm Thị Ngọc Diệp
Giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật
Giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tổng cục thống kê (2024), Kết quả chủ yếu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0h ngày 01/4/2024, NXB. Thống kê, tr.26.
2. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 về phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045.
3.Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 về phê duyệt Đề án Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm.
1. Tổng cục thống kê (2024), Kết quả chủ yếu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0h ngày 01/4/2024, NXB. Thống kê, tr.26.
2. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 về phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045.
3.Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 về phê duyệt Đề án Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm.
Tin mới nhất:
- ❧ Hiến pháp 1946, từ bản Hiến pháp khai quốc đến những giá trị trường tồn của dân tộc Việt Nam -
- ❧ Quy định số 207-QĐ/TW: Những diểm mới về những Điều đảng viên không được làm -
- ❧ Xoá "Chi bộ 0%", số hoá hồ sơ đảng viên: việc không thể không làm -
- ❧ Những mét vuông cuối cùng (Kỳ 2) -
- ❧ Những mét vuông cuối cùng (Kỳ 1) -